Tuổi Thọ Của Chim Khướu Bạc Má / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Raffles.edu.vn

Khướu Mun, Khướu Bạc Má…

Chúng tôi rất tiếc chưa tìm được một tài liệu nào hoặc nguồn tin nào khả dĩ có giá trị nói về xuất xứ của chim Khướu. Nhưng, lại các nước ở vùng Đông Nam Á đều có giống chim này sinh sống.

Tại nước ta, Khướu có mặt khắp cả ba miền Nam Trung Bắc, với số lượng khá nhiều. Nhưng chúng sinh sống theo vùng, chỉ những nơi thích hợp với chúng, chứ không phải cả nước nơi nào cũng có cả.

Chỉ nơi nào có rừng già, rừng thưa, có khi cả rừng chồi mới có Khướu sinh sống, Khướu không sống vùng đồng bằng, nhưng lại có mặt ở vùng núi non, khe suối…

Tuy vậy, dù sinh sống thích hợp ở đâu mà bắt về nuôi bất cứ ở tỉnh thành nào trong nước Khướu cũng đều tỏ ra hợp với phong thổ cả. Như con Khướu Mun ở tận miền Bắc giá lạnh đem vào nuôi ở miền Nam hai mùa mưa nắng, vẫn sống mạnh, hót hay. Ngược lại, con Khướu Bạc Má sinh sống ở Phú Giáo Bình Dương đem lên nuôi ở xứ sương mù Đà Lạt vẫn tỏ ra hợp với khí hậu khác lạ với nơi sinh trưởng của nó. Vì vậy, nhiều người cho Khướu là giống chim rừng dễ nuôi.

Tại nước ta, Khướu cũng có nhiều loại. Đại để có hai loại chính là Khướu Mun và Khướu Bạc Má.

Con Khướu Mun chỉ sinh sống ở miền Bắc và Bắc trung phần.

Ở trong Nam không có Khướu Mun, nhưng ở miền Bắc lại có Khướu Bạc Má. Nhưng Khướu Bạc Má ở Bắc khác với Bạc Má trong Nam, ở chỗ màu lông hơi xám hơn, đốm lông trắng ở hai má hơi nhỏ hơn, mặc dù hình dáng và giọng hót rất giống nhau.

Khướu Bạc Má trong Nam, tùy theo vùng chúng sinh sống mà màu lông có khác nhau chút đỉnh. Chẳng hạn Khướu vùng Bảo Lộc màu lông hơi xám. Khướu ở Phú Giáo thì hung hung đỏ, Khướu Khe Sanh thì màu xám đen…

Được biết ờ khu rừng nguyên sinh Kẽ Bàng tỉnh Quảng Bình (bên trên động Phong Nha) còn có giống Khướu Đá mình chỉ lo bằng con chim sẻ…

Rừng Việt Nam mình thì bao la, nhiều nơi chưa có bước chân người lui tới, chúng tôi hy vọng rằng còn có nhiều giống chim thú khác mà thế giới chưa được biết đến, trong đó may ra còn có các loài Khướu lạ…

Khướu Mun có vóc dáng thon nhỏ hơn Khướu Bạc Má một chút, nhưng hình dáng thì giống hệt nhau. Thân hình Khướu Mun phủ màu lông xám đen. Chim trống có hai loại: má bóng và má màu mờ mờ. Nhiều người cho rằng chim Khướu Mun mà má bóng là Khướu Mun thiệt, còn loại má mờ mờ là Khướu Mun lai (?).

Riêng chim Khướu Mun mái thì có khoen mắt màu đen, phía đuôi mai có vệt đen dài, mà cuối vệt đen không nhọn mà thẳng góc. Thường thì trên đỉnh đầu, viền trên chóp lông mũi có một túm nhỏ lông trắng.

Khướu Bạc Má có thân hình lớn hơn Khướu Mun một tí. Nhưng sự so sánh này không phải là chính xác tuyệt đối, vì giống Khướu có con to con nhỏ, chứ không có sự lớn đồng đều một cỡ như nhau, mặc dầu hình dáng thì giống nhau như đúc. Bằng chứng như quí vị thấy đó, có nhiều con Khướu Mun còn lớn xác hơn cả Khướu Bạc Má. Cũng có con Khướu Mun còn lớn xác hơn cả Khướu Bạc Má. Cũng có con Khướu Bạc Má Thân mình nhỏ choắt như chim mái Khướu Mun…

Về phía người nuôi thì đa số thích nuôi Khướu lớn con; con nào càng “kệch cỡm” càng được ưa chuộng, họ cho rằng Khướu lớn con có vóc dáng đẹp, lại hy vọng có đủ lực để hót tiếng to hơn (?).

Khướu Bạc Má phần nhiều có lồng màu xắm tro ửng vàng nhưng cũng có giống lông màu hung hung đỏ (Khướu vùng Phú Giáo và Lâm Đồng). Thỉnh thoảng ta cùng gặp một số con lông vàng lợt như lông gà mái vàng… Thưììng thì những con lông vàng thì chân cũng vàng trông cũng lạ mắt.

Chân Khướu Mun thường là chân chì, móng đen. Chân Khướu Bạc Má eó màu vàng mốc, móng cũng eó màu như vậy. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng gặp nhưng con Khướu có một hay bốn móng trắng (cả hai chân như nhau). Kinh nghiệm cho thấy những con này thường hót hay.

Từ trước đán nay, những chim Khướu nào có màu lông khác lạ, có móng và chân màu khác lạ thường được nhiều người chuộng nuôi, và nhờ đó mà bán được giá cao.

Người ta dám bỏ số tiền lớn ra mua một phần là do… ‘tham thanh chuộng lạ”, để hãnh diện với hạn bè thân quen là mình có con chim lạ, chứ chưa chắc con chim đỏ đã có tài cán gì xuất sắc hơn những con đồng loại…

Sở dĩ có tên là Khướu Bạc Má là vì hai bên má của Khướu có vệt lông trắng lốp che phủ ngoài tai, lớn bằng móng ngón tay cái người lớn.

Giới nuôi chim Khướu mỗi người có một ý thích khác nhau: có người cả đời chỉ thích nuôi Khướu Mun, có người lại chủ trương nuôi Khướu Bạc Má.

Giới thích nuôi Khướu Mun thì cho rằng giống này có giọng hót thanh hơn, hay hơn Khướu Bạc Má. Trong khi đó người thích nuôi Khướu Bạc Má lại lớn tiếng cho rằng chi có Khướu Bạc Má mới có giọng hót hay hơn…

Ngay với Khướu Bạc Má cũng vậy, có người chỉ tần tụng con Bạc Má vùng Khe Sanh, có người lại khen Khướu vùng Phú Giáo hoặc vùng Lâm Đồng… và tất nhiên, họ chê Khướu vùng khác hót tệ lậu…

Từ đó mới sinh ra các cuộc tranh luận, hoặc chê bai khích bác nhau, dù đôi khi chỉ ở mức nhẹ nhàng cũng dễ iàm mất sự hòa khí giữa anh em nghệ nhân chơi chim với nhau một cách đáng tiếc.

Công tâm mà nói, Khướu hay cũng có thể do vùng, nhưng điều này chắc chắn không tuyệt đối là Khướu nào của vùng đó cũng hay. Thật ra, chim hót hay là tùy năng khiếu đặc biệt của mỗi con, chứ không phải tùy vào màu lông Mun hay Trắng, vùng này hoặc vùng nọ…

Có thể đây là mánh khóe của các con buôn chăng? Họ lợi dụng sự tôn sùng một cách sai lạc của từng cá nhân mà tìm cách lung lạc cách này cách nọ để bán cho được giống Khướu mà họ đang buôn?

Tốt hơn hết, chúng tôi khuyên quí vị nên cả tin vào sự nhận định của mình, cụ thể là vào mắt vào tai của mình để chọn được những chim đẹp dáng và giọng hót lại hay mà mua cho khỏi lầm một cách đáng tiếc!

Kỹ Thuật Nuôi Chim Khướu Bạc Má (Phần 3)

+Tốt nhất ta nên mua lại của những người đi bẩy chim, vì ta đi bẫy nên biết con nào là chim Khướu trống, con nào hót được nhiều giọng và hay, con nào ít hót, con nào thích hợp cho việc đá hơn.

Chọn lồng tre có nan khít được quét qua khoảng 2 – 3 lớp sơn mài hoặc Véc ni, vì như vậy lồng chim mới giữ được màu và khó bị lên mốc và không bị thấm nước.

Treo máng thức ăn và nước uống vào lồng cho chim Khướu, chứa thức ăn nên mua cái có hình dạng cái lu, bằng thủy tinh, loại lớn, nên mua khoảng ba cái, một cái chứa nước, một cái chứa thức ăn và một cái dùng để thả cào cào vào cho ăn.

Cầu (nèo) cho chim Khướu: Nên chọn những cái cầu to hơn ngón tay cái, nên kiếm một cành cây lõi chắc, hơi cong. đặt cầu sao cho cầu ở chính giữa lồng, nếu lồng có số nan lẻ thì đặt cầu sao cho số nan ở ngoài cửa nhiều hơn số nan ở phía sau (đối với lồng vuông).

Cách tắm và vệ sinh cho chim Khướu Bạc Má:

Buổi sáng, khi mang chim ra, sau khi nghe chim hót. Khi mặt trời lên thì có thể mang chim ra tắm nắng. Chim rất thích tắm nắng vào buổi sáng sớm, khoảng 3 – 5 phút là có thể mang vào, treo lồng ở trên cao. Có thể cho chim ăn cào cào theo chế đô sáng 2 con, chiều 2 con.

Khướu thích tắm, vì thế Khướu thường sống ở những nơi mát, như gần khe, suối. Mang chim Khướu về nhà khoảng hai tuần, khi chim đã dạn người hơn thì bắt đầu tập cho chim Khướu tắm, sau đó sang chim qua lồng tắm bằng cách đưa hai lồng lại đến gần nhau, kéo cửa lồng lên, đứng lùi lại phía sau lồng có chim ấy, khi đó chim Khướu sợ sẽ tìm đường nhảy sang lồng tắm. Khi chim Khướu đã qua lồng tắm thì nhẹ nhàng đến gần, đóng cửa lồng lại. Dùng nước tưới nhẹ, vẩy nhẹ nước cho ướt lông Khướu. Nhớ là vẩy nhẹ cho lông ướt ít là ổn, chứ vẩy nhiều là chim sẽ nhát. Sau đó lùi lại phía sau và nên để lồng tắm ở nơi có nắng nhẹ, khi đó sẽ kích thích chim tắm hơn. Bạn ngồi ở gần đó, vừa xem chim vừa tranh thủ vệ sinh lồng kia, thay bột và nước. Ban đầu chim sẽ không dám nhảy xuống nước tắm, nhưng ánh nắng nhẹ sẽ kích thích nó, làm cho nó thấy khó chịu và ngứa ngáy, thế là nhảy vào tắm.

Chim Khướu thích tắm nên có thể loại bỏ được lũ rận chí. Khi nào chim hay nhảy bám vào thành lồng chứ không đứng yên, không rũ lông là chim Khướu tắm đủ, khi đó ta nên mang lồng đến và sang chim qua lồng, cách sang cũng tương tự, đứng về phía lồng tắm và bắt đầu kéo cửa, khi chim đã qua thì đóng cửa lại, mang chim ra cho chơi nắng nhẹ khi đó chim sẽ rũ lông, rỉa cánh nhằm lại hết bụi bẩn bám ở người.

Khi thấy chim Khướu hay rỉa lông, và hay dùng chân gãi thì khi đó 80% là chim Khướu đã bị rận chí, có thể trị bằng cách tắm cho chim, pha vào nước một ít muối ăn và cho chim tắm bình thường. Làm như vậy vài lần sẽ khỏi ngay.

Công tâm mà nói, Khướu hay cũng có thể do vùng, nhưng điều này chắc chắn không tuyệt đối là chim Khướu nào của vùng đó cũng hay. Thật ra, chim Khướu hót hay là tùy năng khiếu đặc biệt của mỗi con, chứ không phải tùy vào màu lông Mun hay Trắng, vùng này hoặc vùng kia…

Tuổi Thọ Của Các Loài Chim – Kipkis

10. Tuổi thọ của các loài chim

Việc tìm hiểu tuổi đời của các loài chim hoang dại, dù đã được chú ý nghiên cứu hơn nửa thế kỷ qua, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa biết được gì nhiều lắm. Đây là một vấn đề khá phức tạp, vì chim sống tự do trong thiên nhiên, nay đây mai đó, biết chúng chết lúc nào mà theo dõi, ghi chép. Dùng phương pháp đeo vòng, người ta cũng đã biết được ít nhiều, nhưng lúc bắt lại được chim đeo vòng có phải đã là lúc chim già nhất chưa thì cũng còn phải bàn cãi. Để biết được tuổi đời của các loại chim hoang dại một cách chính xác, phương pháp chắc chắn nhất vẫn là theo dõi chúng ở các vườn nuôi. Nhưng tiếc thay số loài chim hoang dại đã được nuôi từ trước đến nay không phải là nhiều, vả lại do điều kiện sinh sống của chúng trong vườn nuôi, không hoàn toàn giống với điều kiện thiên nhiên, nên tuổi thọ của các cá thể sống trong vườn nuôi cũng có phần sai khác với tuổi thọ của đồng loại của chúng sống trong thiên nhiên. Trong thiên nhiên có lẽ chim gặp nhiều khó khăn hơn ở vườn nuôi về điều kiện khí hậu, về thức ăn, kẻ thù và bệnh tật v.v…, và cũng vì vậy mà tuổi thọ của chim nuôi có lẽ dài hơn so với chim sống trong thiên nhiên. Nói chung, chim có kích thước lớn thường sống lâu hơn chim có kích thước bé, nhưng cũng không phải chim lớn nhất đã có tuổi thọ cao nhất. Đà điểu châu Phi, loài chim hiện đại có cỡ lớn nhất nhưng chỉ sống được khoảng 30 – 40 năm, trong lúc đó dù dì, nhỏ hơn đà điểu nhiều mà thọ đến 68 tuổi.

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu mấy lâu nay thì tuổi thọ trung bình của các loài chim cùng một nhóm phân loại, không khác nhau nhiều lắm. Tuổi thọ trung bình của chim thuộc bộ Sẻ và bộ Vẹt là 20 năm, của Cú 15 năm, của chim cắt 21 – 24 năm, vịt, ngỗng 20 năm, rẽ giun 10 năm, mòng biển 17 năm, bồ câu 12 năm và gà 13 năm. Đây tuổi thọ của gà rừng, còn gà nhà thì có thể sống 24 – 25 năm và thậm chí có con sống được 30 năm.

Tuổi thọ của một số loài cụ thể được xem như cao nhất đối với loài đó có thể kể như sau. Trong bộ Sẻ thì quạ sống được lâu nhất, có một con đã sống đến tuổi 60 và một con khác đến tuổi 69. Các loài chim sẻ bé có tuổi thọ thấp hơn: chim chích đầu đen 24 năm, hoét 20 năm, sơn ca 20 năm. Trong bộ Cú thì dù dì sống lâu nhất 34, 53 và 68 năm. Trong bộ Vẹt, có vẹt mào châu Úc sống đến 56 năm, và vẹt đỏ Bắc Mỹ 64 năm. Về nhóm chim ăn thịt ban ngày đã có những số liệu như sau: diều hâu châu Phi sống được 55 năm, kền kền Nam Mỹ 52 và 65 năm, đại bàng đầu trọc 38 năm. Trong bộ Ngỗng, ta biết được tuổi thọ của vịt Canada là 33 năm và thiên nga nhỏ 24 năm rưỡi. Trong nhóm sếu có sếu châu Úc sống được 47 năm, sếu xám 43 năm, sếu cổ trụi 42 năm. Bồ nông hồng sống được đến 51 năm và một số loài bồ câu sống đến 30 năm.

Bằng phương pháp đeo vòng người ta cũng đã thu được một số kết quả khả quan như đã bắt được rẽ lớn 9 tuổi, nhạn sống 16 tuổi, nhạn biển 20 tuổi rưỡi, nhạn Bắc cực 14 tuổi, chim cánh cụt trán trắng 22 tuổi, diệc 20 tuổi, cò 11 tuổi, diều mướp 13 tuổi, quạ xám 14 tuổi, sáo 12 tuổi, yến đen 9 tuổi, sẻ nhà 11 tuổi rưỡi, đớp ruồi xám 12 tuổi rưỡi, và nhạn 9 tuổi. Nhóm vịt tuy bị săn bắt rất nhiều nhưng người ta cũng đã bắt được những con sống đến 18 – 20 năm.

Trong thiên nhiên hầu hết các loài chim đều có tỷ lệ tử vong khá cao nhất là vào tuổi chưa trưởng thành, lúc chim chưa đầy một năm tuổi. Hiện tượng này đã ảnh hưởng rõ ràng đến tuổi thọ của chim và việc chim kéo dài được tuổi đời của chúng đến mức tối đa trong thiên nhiên là điều hiếm có. Ở các loài chim thuộc bộ Sẻ, tỷ lệ tử vong vượt quá 50%, như loài đớp ruồi lưng đen chỉ trong năm đầu đã chết 60%, đớp ruồi trán trắng đến 79%. Ở Cộng hòa dân chủ Đức người ta đã đeo vòng cho 77 chim nhạn non, trong năm thứ nhất đã có 51 con bị chết, năm thứ hai 17 con, năm thứ ba 6 con, năm thứ tư 2 con và chỉ còn 1 con sống sót đến năm thứ năm.

Khí hậu khắc nghiệt, nhất là lạnh, cũng đã làm chết khá nhiều chim. Ví dụ, loài chim cánh cụt chúa ở vùng Nam cực là loài chim chịu lạnh giỏi nhất, thế mà có đến 77% chim non bị tử vong vì lạnh. Đối với loài mòng biển, chỉ trong năm đầu đã có đến 0,5% chim non chết, nhưng tỷ lệ tử vong của chim non trong năm đầu chỉ chiếm 17,2% toàn đàn. Vì vậy mà (nếu không kể chim non) thì phần lớn thành viên của đàn chim có tuổi đời từ 3 đến 5 năm.

Đối với các loài chim ở nước, nhất là những loài sống tập đoàn thì tuổi thọ trung bình cao hơn ở chim sẻ và dĩ nhiên tỷ lệ tử vong của chim trưởng thành cũng thấp hơn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Đời sống các loài chim

Tác giả: Võ Quý

Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội – 1978

Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.

“Like” us to know more!

Knowledge is power

Tuổi Thọ Của Chim Và Chim Sống Được Bao Lâu

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau,…

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau, có những loài chỉ sống được vài năm nhưng có những loài lại sống được tới 102 năm.

Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài, có thể từ ba đến bốn năm tuổi đối với một số loài chim sẻ và hơn 50 năm đối với một số loài hải âu, và thậm chí hơn 60 năm tuổi đối với một số loài hiếm có như chim kakapo (Strigops habroptilus).

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu: Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài

Trong cùng một loài chim, việc thay lông không những phụ thuộc vào mùa, mà còn vào độ tuổi của chim, do vậy việc biết rõ các thông tin này sẽ giúp tính ra tuổi của nhiều loài chim hoang dã. Ngoài ra mức độ khí hóa khung xương cũng là một đặc điểm được sử dụng để ước tính ra tuổi của chim.

Cho đến nay, con chim già nhất thế giới được ghi nhận là một con vẹt, thọ 102 tuổi, trong điều kiện nuôi nhốt.

Theo thông tin từ Hiệp hội Hoàng gia Bảo vệ chim của Anh ước tính tuổi thọ trung bình của hải âu Manx là 29. Nhưng nhìn chung, tất cả các loài chim biển dường như đều có tuổi thọ cao hơn các loài chim khác. Theo Grantham, điều đó có thể là do chúng sống trong môi trường gần như vắng mặt các kẻ thù tự nhiên.

Chim có danh pháp là Aves, là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng, đi đứng bằng hai chân, có mỏ, đẻ trứng, có cánh, có lông vũ và phần lớn là biết bay. Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 loài còn tồn tại, giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi.

Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Các loài chim có kích thước dao động khác nhau, từ nhỏ cỡ 5 cm như chim ruồi cho tới lớn cỡ 2,7 m như đà điểu. Các bằng chứng hóa thạch cho thấy, chim được tiến hóa từ các loài khủng long chân thú trong suốt kỷ Jura.

Vào khoảng 150-200 triệu năm về trước, với đại diện đầu tiên được biết đến, xuất hiện từ cuối kỷ Jura là loài Archaeopteryx (vào khoảng 155-150 triệu năm trước). Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đều coi chim là nhánh duy nhất của khủng long còn sống sót sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen vào khoảng 65,5 triệu năm trước.

Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lông vũ, có mỏ và không răng, đẻ trứng có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn ngăn, cùng với một bộ xương nhẹ nhưng chắc. Tất cả các loài chim đều có chi trước đã biển đổi thành cánh và hầu hết có thể bay, trừ những ngoại lệ như các loài thuộc bộ Chim cánh cụt, bộ Đà điểu và một số đa dạng những loài chim đặc hữu sống trên đảo.

Chim cũng có hệ tiêu hóa và hô hấp độc nhất mà đáp ứng cao cho hoạt động bay. Vài loài chim, đặc biệt là quạ và vẹt, nằm trong những loài thông minh nhất của giới động vật; một số được quan sát đang chế tạo và sử dụng công cụ, nhiều loài sống thành bầy lại có thể truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết cho thế hệ sau.

Nhiều loài chim hàng năm thường di trú đến những nơi rất xa, cùng rất nhiều loài lại thực hiện những chuyến bay ngắn hơn và bất thường. Chim là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù.

Phần lớn chim là những loài đơn phối ngẫu xã hội, thường vào mùa giao phối trong một thời gian nhất định. Trứng chim thường được đẻ trong tổ và ấp bởi chim bố mẹ. Hầu hết chim non sau khi nở đều có thêm một thời gian được chim bố mẹ chăm sóc.

Nhiều loài chim có tầm quan trọng đối với con người, đa phần được sử dụng làm thức ăn thông qua việc săn bắn hay chăn nuôi. Một vài loài, như phân bộ Sẻ hay bộ Vẹt, được biết đến với vai trò vật nuôi làm cảnh. Hình tượng chim xuất hiện trong tất cả các mặt của văn hóa con người, từ tôn giáo, thần thoại đến thi ca và âm nhạc phổ thông.

Khoảng 120-130 loài chim đã bị tuyệt chủng do hành động con người trong thế kỷ 17, cùng với hàng trăm loài khác sau đó. Hiện nay, có khoảng 1.200 loài đang trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng bởi các hoạt động từ loài người, cho dù vẫn đang có những nỗ lực bảo vệ chúng.

Các bằng chứng hóa thạch và phân tích sinh học chuyên sâu đã chứng minh vượt qua bất cứ nghi ngờ có lý nào rằng chim là những loài khủng long chân thú. Cụ thể hơn, chúng là thành viên của Maniraptora, cùng với các nhóm khác như họ Dromaeosauridae và họ Oviraptoridae.

Khi càng nhiều loài khủng long chân thú có mối quan hệ gần gũi với chim được các nhà khoa học phát hiện, thì những điểm khác biệt rõ ràng trước đây giữa chim và loài không phải chim lại càng bị xóa nhòa. Những phát hiện gần đây tại tỉnh Liêu Ninh phía Đông Bắc Trung Quốc, đã chứng tỏ rằng có nhiều khủng long chân thú cỡ nhỏ có lông vũ, lại càng góp phần thêm cho sự không rõ ràng này

Quan điểm đồng thuận trong giới cổ sinh vật học hiện đại cho rằng lớp Chim (Aves), chính là họ hàng gần gũi nhất của cận bộ Deinonychosauria, mà bao gồm hai họ Dromaeosauridae và Troodontidae. Chúng cùng nhau tạo thành một nhóm gọi là Paraves.

Ở chi cơ sở Microraptor của họ Dromaeosauridae, cũng có bộ lông vũ mà có thể được chúng sử dụng để bay lượn. Hầu hết những loài Deinonychosauria cơ sở đều rất nhỏ bé; điều này gia tăng khả năng rằng tổ tiên của tất cả các loài Paraves có thể đã từng sống trên cây, và/hoặc có khả năng chao lượn.

Dù Ornithischia (khủng long “hông chim”) có cấu trúc hông tương đồng với những loài chim hiện đại, chim vẫn được coi là bắt nguồn từ giống khủng long Saurischia (“hông thằn lằn”), mà đã tiến hóa cấu trúc hông của chúng một cách độc lập. Trên thực tế, bên cạnh hai nhóm trên, cấu trúc hông giống chim cũng được tiến hóa trong một nhóm khủng long chân thú riêng biệt, được biết đến là Therizinosauridae.

Vào cuối những năm 1990, bằng chứng về chim là Maniraptora trở nên không thể chối cãi, nên Martin và Feduccia đã chấp nhận phiên bản sửa đổi trong giả thuyết của họ bởi nghệ sĩ dàn dựng khủng long Gregory S. Paul; trong đó những Maniraptora là những loài chim không biết bay thứ cấp, tuy nhiên trong phiên bản đó, chim lại tiến hóa trực tiếp từ Longisquama.

Theo như vậy thì chim vẫn không phải khủng long, nhưng cũng không phải là hầu hết các loài được biết đến mà hiện tại đã được phân loại như khủng long chân thú. Maniraptora, thay vì thế, lại là những loài chim thuộc nhóm Archosaur và không biết bay. Giả thuyết của Martin và Feduccia không được thừa nhận bởi hầu hết các nhà cổ sinh vật học.

Những đặc điểm mà xem như bằng chứng của sự không bay được, theo xu thế chủ đạo của những nhà cổ sinh vật, được giải thích là “sự thích nghi ban đầu” (pre-adation hay exaptation), rằng Maniraptora đã thừa hưởng những đặc điểm từ tổ tiên chung của chúng cùng với các loài chim.

Protoavis texensis được miêu tả năm 1991, coi là loài chim cổ hơn cả Archaeopteryx. Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng hóa thạch phát hiện có chất lượng bảo quản kém, được phục dựng lại phần lớn, và có thể là một “chimera” (tức được tạo nên từ hóa thạch xương của nhiều loại động vật khác nhau). Hộp sọ của chúng thì gần như rất giống với một loài Coelurosauria thuở ban đầu.

Chim sống và sinh sản ở hầu hết các môi trường trên cạn cũng như ở cả bảy lục địa, trong đó nắm giữ kỷ lục phương Nam là loài hải âu pêtren tuyết khi có thể sinh sản ở khu vực lấn sâu tới 440 kilômét trong châu Nam Cực.

Tính đa dạng cao nhất về các loài chim thuộc những khu vực nhiệt đới. Trước đây, người ta nghĩ rằng tính đa dạng cao là kết quả của tốc độ hình thành loài cao ở những khu vực này, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy, ở khu vực có vĩ độ cao, tốc độ hình thành loài dù cao hơn nhưng lại bị bù trừ bởi tốc độ tuyệt chủng mà cũng lớn hơn so với vùng nhiệt đới.

Vài họ chim lại có cuộc sống thích nghi ở cả môi trường đại dương, trong số đó, có những loài chim biển vào bờ chỉ duy để sinh sản, và một số chim cánh cụt lại được ghi nhận là có thể lặn ở độ sâu tới 300 mét.

Nhiều loài chim đã thành lập những quần thể giao phối ở những vùng mà chúng được nhập nội bởi con người. Có những loài được nhập nội có chủ ý, ví dụ như loài trĩ đỏ, đã được đưa đi trên toàn thế giới như một loại chim để săn bắt.

Số khác lại mang tính ngẫu nhiên, một ví dụ là sự thành lập của quần thể vẹt thầy tu đuôi dài (Myiopsitta monachus) ở vài thành phố của Bắc Mỹ, sau khi chúng thoát ra khỏi tình trạng nuôi nhốt.

Vài loài khác, bao gồm cò ruồi, diều vằn đầu vàng và vẹt mào ngực hồng đã mở rộng phân bố một cách tự nhiên bên cạnh khu vực phân bố gốc, bởi các hoạt động nông nghiệp đã tạo nên sinh cảnh mới thích hợp cho chúng.

Phân lớp Neornithes gồm:

Paleognathae:

Struthioniformes – Bộ Đà điểu

Tinamiformes – Tinamou

Neognathae:

Anseriformes -Bộ Ngỗng

Galliformes – Bộ Gà

Charadriiformes – Bộ Choi choi (Bộ Rẽ)

Gaviiformes – Chim lặn Gavia

Podicipediformes – Bộ Chim lặn (Bộ Le hôi)

Procellariiformes – Bộ Hải âu (Bộ Chim báo bão)

Sphenisciformes – Bộ Chim cánh cụt

Pelecaniformes – Bộ Bồ nông

Phaethontiformes – Chim nhiệt đới (tropicbird)

Ciconiiformes – Bộ Hạc

Cathartiformes – Kền kền Tân Thế giới

Phoenicopteriformes – Bộ Hồng hạc

Falconiformes – Bộ Cắt

Gruiformes – Bộ Sếu

Pteroclidiformes – Gà cát (sandgrouse)

Columbiformes – Bộ Bồ câu

Psittaciformes – Bộ Vẹt

Cuculiformes – Bộ Cu cu

Opisthocomiformes – Gà móng ở Nam Mỹ (hoatzin)

Strigiformes – Bộ Cú

Caprimulgiformes – Bộ Cú muỗi

Apodiformes – Bộ Yến

Coraciiformes – Bộ Sả

Piciformes – Bộ Gõ kiến

Trogoniformes – Bộ Nuốc

Coliiformes – Chim chuột (mousebird)

Passeriformes – Bộ Sẻ

Chim và gia cầm là một trong những nguồn truyền bệnh chủ yếu ở các cự ly xa đối với con người như các bệnh virút vẹt, bệnh vi khuẩn Salmonella, bệnh vi khuẩn xoắn, bệnh lao gia cầm, cúm gia cầm, sốt hải ly (bệnh do loài ký sinh Giardia lamblia, và bệnh Cryptosporidium gây ra).

Các bệnh này cũng như sự lây lan của chúng cũng được nghiên cứu rất kỹ. Cũng do tầm phổ biến của ngành nuôi gia cầm, việc phát hiện ra các ổ bệnh gia cầm có thể khiến chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp triệt để và ngặt nghèo đối với việc chăn nuôi này.

Vào tháng 9 năm 2007, 205.000 con gia cầm tại Bavière đã bị thiêu hủy, 160.000 gia cầm tại Bangladesh cũng đã bị thiêu hủy vào tháng 2 năm 2008 do phát hiện ra ổ dịch cúm gia cầm… Một số bệnh đặc thù như bệnh Pacheco chỉ có ở các loài thuộc bộ Vẹt.

Nuôi chim cảnh là một trong những thú vui của con người, chúng không chỉ là người bạn tâm giao mà còn là niềm vui, là may mắn của mỗi gia đình.

Một số loại chim được nuôi nhiều như họa mi, sơn ca, chích chòe bởi chúng có giọng hót hay lại không khó nuôi.