Tuổi Thọ Chim Vẹt Yến Phụng / 2023 / Top 15 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Raffles.edu.vn

Tuổi Thọ Của Các Loài Chim / 2023

10. Tuổi thọ của các loài chim

Việc tìm hiểu tuổi đời của các loài chim hoang dại, dù đã được chú ý nghiên cứu hơn nửa thế kỷ qua, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa biết được gì nhiều lắm. Đây là một vấn đề khá phức tạp, vì chim sống tự do trong thiên nhiên, nay đây mai đó, biết chúng chết lúc nào mà theo dõi, ghi chép. Dùng phương pháp đeo vòng, người ta cũng đã biết được ít nhiều, nhưng lúc bắt lại được chim đeo vòng có phải đã là lúc chim già nhất chưa thì cũng còn phải bàn cãi. Để biết được tuổi đời của các loại chim hoang dại một cách chính xác, phương pháp chắc chắn nhất vẫn là theo dõi chúng ở các vườn nuôi. Nhưng tiếc thay số loài chim hoang dại đã được nuôi từ trước đến nay không phải là nhiều, vả lại do điều kiện sinh sống của chúng trong vườn nuôi, không hoàn toàn giống với điều kiện thiên nhiên, nên tuổi thọ của các cá thể sống trong vườn nuôi cũng có phần sai khác với tuổi thọ của đồng loại của chúng sống trong thiên nhiên. Trong thiên nhiên có lẽ chim gặp nhiều khó khăn hơn ở vườn nuôi về điều kiện khí hậu, về thức ăn, kẻ thù và bệnh tật v.v…, và cũng vì vậy mà tuổi thọ của chim nuôi có lẽ dài hơn so với chim sống trong thiên nhiên. Nói chung, chim có kích thước lớn thường sống lâu hơn chim có kích thước bé, nhưng cũng không phải chim lớn nhất đã có tuổi thọ cao nhất. Đà điểu châu Phi, loài chim hiện đại có cỡ lớn nhất nhưng chỉ sống được khoảng 30 – 40 năm, trong lúc đó dù dì, nhỏ hơn đà điểu nhiều mà thọ đến 68 tuổi.

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu mấy lâu nay thì tuổi thọ trung bình của các loài chim cùng một nhóm phân loại, không khác nhau nhiều lắm. Tuổi thọ trung bình của chim thuộc bộ Sẻ và bộ Vẹt là 20 năm, của Cú 15 năm, của chim cắt 21 – 24 năm, vịt, ngỗng 20 năm, rẽ giun 10 năm, mòng biển 17 năm, bồ câu 12 năm và gà 13 năm. Đây tuổi thọ của gà rừng, còn gà nhà thì có thể sống 24 – 25 năm và thậm chí có con sống được 30 năm.

Tuổi thọ của một số loài cụ thể được xem như cao nhất đối với loài đó có thể kể như sau. Trong bộ Sẻ thì quạ sống được lâu nhất, có một con đã sống đến tuổi 60 và một con khác đến tuổi 69. Các loài chim sẻ bé có tuổi thọ thấp hơn: chim chích đầu đen 24 năm, hoét 20 năm, sơn ca 20 năm. Trong bộ Cú thì dù dì sống lâu nhất 34, 53 và 68 năm. Trong bộ Vẹt, có vẹt mào châu Úc sống đến 56 năm, và vẹt đỏ Bắc Mỹ 64 năm. Về nhóm chim ăn thịt ban ngày đã có những số liệu như sau: diều hâu châu Phi sống được 55 năm, kền kền Nam Mỹ 52 và 65 năm, đại bàng đầu trọc 38 năm. Trong bộ Ngỗng, ta biết được tuổi thọ của vịt Canada là 33 năm và thiên nga nhỏ 24 năm rưỡi. Trong nhóm sếu có sếu châu Úc sống được 47 năm, sếu xám 43 năm, sếu cổ trụi 42 năm. Bồ nông hồng sống được đến 51 năm và một số loài bồ câu sống đến 30 năm.

Bằng phương pháp đeo vòng người ta cũng đã thu được một số kết quả khả quan như đã bắt được rẽ lớn 9 tuổi, nhạn sống 16 tuổi, nhạn biển 20 tuổi rưỡi, nhạn Bắc cực 14 tuổi, chim cánh cụt trán trắng 22 tuổi, diệc 20 tuổi, cò 11 tuổi, diều mướp 13 tuổi, quạ xám 14 tuổi, sáo 12 tuổi, yến đen 9 tuổi, sẻ nhà 11 tuổi rưỡi, đớp ruồi xám 12 tuổi rưỡi, và nhạn 9 tuổi. Nhóm vịt tuy bị săn bắt rất nhiều nhưng người ta cũng đã bắt được những con sống đến 18 – 20 năm.

Trong thiên nhiên hầu hết các loài chim đều có tỷ lệ tử vong khá cao nhất là vào tuổi chưa trưởng thành, lúc chim chưa đầy một năm tuổi. Hiện tượng này đã ảnh hưởng rõ ràng đến tuổi thọ của chim và việc chim kéo dài được tuổi đời của chúng đến mức tối đa trong thiên nhiên là điều hiếm có. Ở các loài chim thuộc bộ Sẻ, tỷ lệ tử vong vượt quá 50%, như loài đớp ruồi lưng đen chỉ trong năm đầu đã chết 60%, đớp ruồi trán trắng đến 79%. Ở Cộng hòa dân chủ Đức người ta đã đeo vòng cho 77 chim nhạn non, trong năm thứ nhất đã có 51 con bị chết, năm thứ hai 17 con, năm thứ ba 6 con, năm thứ tư 2 con và chỉ còn 1 con sống sót đến năm thứ năm.

Khí hậu khắc nghiệt, nhất là lạnh, cũng đã làm chết khá nhiều chim. Ví dụ, loài chim cánh cụt chúa ở vùng Nam cực là loài chim chịu lạnh giỏi nhất, thế mà có đến 77% chim non bị tử vong vì lạnh. Đối với loài mòng biển, chỉ trong năm đầu đã có đến 0,5% chim non chết, nhưng tỷ lệ tử vong của chim non trong năm đầu chỉ chiếm 17,2% toàn đàn. Vì vậy mà (nếu không kể chim non) thì phần lớn thành viên của đàn chim có tuổi đời từ 3 đến 5 năm.

Đối với các loài chim ở nước, nhất là những loài sống tập đoàn thì tuổi thọ trung bình cao hơn ở chim sẻ và dĩ nhiên tỷ lệ tử vong của chim trưởng thành cũng thấp hơn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Đời sống các loài chim

Tác giả: Võ Quý

Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội – 1978

Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.

Tuổi Thọ Của Chim Và Chim Sống Được Bao Lâu / 2023

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau,…

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau, có những loài chỉ sống được vài năm nhưng có những loài lại sống được tới 102 năm.

Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài, có thể từ ba đến bốn năm tuổi đối với một số loài chim sẻ và hơn 50 năm đối với một số loài hải âu, và thậm chí hơn 60 năm tuổi đối với một số loài hiếm có như chim kakapo (Strigops habroptilus).

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu: Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài

Trong cùng một loài chim, việc thay lông không những phụ thuộc vào mùa, mà còn vào độ tuổi của chim, do vậy việc biết rõ các thông tin này sẽ giúp tính ra tuổi của nhiều loài chim hoang dã. Ngoài ra mức độ khí hóa khung xương cũng là một đặc điểm được sử dụng để ước tính ra tuổi của chim.

Cho đến nay, con chim già nhất thế giới được ghi nhận là một con vẹt, thọ 102 tuổi, trong điều kiện nuôi nhốt.

Theo thông tin từ Hiệp hội Hoàng gia Bảo vệ chim của Anh ước tính tuổi thọ trung bình của hải âu Manx là 29. Nhưng nhìn chung, tất cả các loài chim biển dường như đều có tuổi thọ cao hơn các loài chim khác. Theo Grantham, điều đó có thể là do chúng sống trong môi trường gần như vắng mặt các kẻ thù tự nhiên.

Chim có danh pháp là Aves, là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng, đi đứng bằng hai chân, có mỏ, đẻ trứng, có cánh, có lông vũ và phần lớn là biết bay. Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 loài còn tồn tại, giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi.

Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Các loài chim có kích thước dao động khác nhau, từ nhỏ cỡ 5 cm như chim ruồi cho tới lớn cỡ 2,7 m như đà điểu. Các bằng chứng hóa thạch cho thấy, chim được tiến hóa từ các loài khủng long chân thú trong suốt kỷ Jura.

Vào khoảng 150-200 triệu năm về trước, với đại diện đầu tiên được biết đến, xuất hiện từ cuối kỷ Jura là loài Archaeopteryx (vào khoảng 155-150 triệu năm trước). Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đều coi chim là nhánh duy nhất của khủng long còn sống sót sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen vào khoảng 65,5 triệu năm trước.

Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lông vũ, có mỏ và không răng, đẻ trứng có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn ngăn, cùng với một bộ xương nhẹ nhưng chắc. Tất cả các loài chim đều có chi trước đã biển đổi thành cánh và hầu hết có thể bay, trừ những ngoại lệ như các loài thuộc bộ Chim cánh cụt, bộ Đà điểu và một số đa dạng những loài chim đặc hữu sống trên đảo.

Chim cũng có hệ tiêu hóa và hô hấp độc nhất mà đáp ứng cao cho hoạt động bay. Vài loài chim, đặc biệt là quạ và vẹt, nằm trong những loài thông minh nhất của giới động vật; một số được quan sát đang chế tạo và sử dụng công cụ, nhiều loài sống thành bầy lại có thể truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết cho thế hệ sau.

Nhiều loài chim hàng năm thường di trú đến những nơi rất xa, cùng rất nhiều loài lại thực hiện những chuyến bay ngắn hơn và bất thường. Chim là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù.

Phần lớn chim là những loài đơn phối ngẫu xã hội, thường vào mùa giao phối trong một thời gian nhất định. Trứng chim thường được đẻ trong tổ và ấp bởi chim bố mẹ. Hầu hết chim non sau khi nở đều có thêm một thời gian được chim bố mẹ chăm sóc.

Nhiều loài chim có tầm quan trọng đối với con người, đa phần được sử dụng làm thức ăn thông qua việc săn bắn hay chăn nuôi. Một vài loài, như phân bộ Sẻ hay bộ Vẹt, được biết đến với vai trò vật nuôi làm cảnh. Hình tượng chim xuất hiện trong tất cả các mặt của văn hóa con người, từ tôn giáo, thần thoại đến thi ca và âm nhạc phổ thông.

Khoảng 120-130 loài chim đã bị tuyệt chủng do hành động con người trong thế kỷ 17, cùng với hàng trăm loài khác sau đó. Hiện nay, có khoảng 1.200 loài đang trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng bởi các hoạt động từ loài người, cho dù vẫn đang có những nỗ lực bảo vệ chúng.

Các bằng chứng hóa thạch và phân tích sinh học chuyên sâu đã chứng minh vượt qua bất cứ nghi ngờ có lý nào rằng chim là những loài khủng long chân thú. Cụ thể hơn, chúng là thành viên của Maniraptora, cùng với các nhóm khác như họ Dromaeosauridae và họ Oviraptoridae.

Khi càng nhiều loài khủng long chân thú có mối quan hệ gần gũi với chim được các nhà khoa học phát hiện, thì những điểm khác biệt rõ ràng trước đây giữa chim và loài không phải chim lại càng bị xóa nhòa. Những phát hiện gần đây tại tỉnh Liêu Ninh phía Đông Bắc Trung Quốc, đã chứng tỏ rằng có nhiều khủng long chân thú cỡ nhỏ có lông vũ, lại càng góp phần thêm cho sự không rõ ràng này

Quan điểm đồng thuận trong giới cổ sinh vật học hiện đại cho rằng lớp Chim (Aves), chính là họ hàng gần gũi nhất của cận bộ Deinonychosauria, mà bao gồm hai họ Dromaeosauridae và Troodontidae. Chúng cùng nhau tạo thành một nhóm gọi là Paraves.

Ở chi cơ sở Microraptor của họ Dromaeosauridae, cũng có bộ lông vũ mà có thể được chúng sử dụng để bay lượn. Hầu hết những loài Deinonychosauria cơ sở đều rất nhỏ bé; điều này gia tăng khả năng rằng tổ tiên của tất cả các loài Paraves có thể đã từng sống trên cây, và/hoặc có khả năng chao lượn.

Dù Ornithischia (khủng long “hông chim”) có cấu trúc hông tương đồng với những loài chim hiện đại, chim vẫn được coi là bắt nguồn từ giống khủng long Saurischia (“hông thằn lằn”), mà đã tiến hóa cấu trúc hông của chúng một cách độc lập. Trên thực tế, bên cạnh hai nhóm trên, cấu trúc hông giống chim cũng được tiến hóa trong một nhóm khủng long chân thú riêng biệt, được biết đến là Therizinosauridae.

Vào cuối những năm 1990, bằng chứng về chim là Maniraptora trở nên không thể chối cãi, nên Martin và Feduccia đã chấp nhận phiên bản sửa đổi trong giả thuyết của họ bởi nghệ sĩ dàn dựng khủng long Gregory S. Paul; trong đó những Maniraptora là những loài chim không biết bay thứ cấp, tuy nhiên trong phiên bản đó, chim lại tiến hóa trực tiếp từ Longisquama.

Theo như vậy thì chim vẫn không phải khủng long, nhưng cũng không phải là hầu hết các loài được biết đến mà hiện tại đã được phân loại như khủng long chân thú. Maniraptora, thay vì thế, lại là những loài chim thuộc nhóm Archosaur và không biết bay. Giả thuyết của Martin và Feduccia không được thừa nhận bởi hầu hết các nhà cổ sinh vật học.

Những đặc điểm mà xem như bằng chứng của sự không bay được, theo xu thế chủ đạo của những nhà cổ sinh vật, được giải thích là “sự thích nghi ban đầu” (pre-adation hay exaptation), rằng Maniraptora đã thừa hưởng những đặc điểm từ tổ tiên chung của chúng cùng với các loài chim.

Protoavis texensis được miêu tả năm 1991, coi là loài chim cổ hơn cả Archaeopteryx. Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng hóa thạch phát hiện có chất lượng bảo quản kém, được phục dựng lại phần lớn, và có thể là một “chimera” (tức được tạo nên từ hóa thạch xương của nhiều loại động vật khác nhau). Hộp sọ của chúng thì gần như rất giống với một loài Coelurosauria thuở ban đầu.

Chim sống và sinh sản ở hầu hết các môi trường trên cạn cũng như ở cả bảy lục địa, trong đó nắm giữ kỷ lục phương Nam là loài hải âu pêtren tuyết khi có thể sinh sản ở khu vực lấn sâu tới 440 kilômét trong châu Nam Cực.

Tính đa dạng cao nhất về các loài chim thuộc những khu vực nhiệt đới. Trước đây, người ta nghĩ rằng tính đa dạng cao là kết quả của tốc độ hình thành loài cao ở những khu vực này, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy, ở khu vực có vĩ độ cao, tốc độ hình thành loài dù cao hơn nhưng lại bị bù trừ bởi tốc độ tuyệt chủng mà cũng lớn hơn so với vùng nhiệt đới.

Vài họ chim lại có cuộc sống thích nghi ở cả môi trường đại dương, trong số đó, có những loài chim biển vào bờ chỉ duy để sinh sản, và một số chim cánh cụt lại được ghi nhận là có thể lặn ở độ sâu tới 300 mét.

Nhiều loài chim đã thành lập những quần thể giao phối ở những vùng mà chúng được nhập nội bởi con người. Có những loài được nhập nội có chủ ý, ví dụ như loài trĩ đỏ, đã được đưa đi trên toàn thế giới như một loại chim để săn bắt.

Số khác lại mang tính ngẫu nhiên, một ví dụ là sự thành lập của quần thể vẹt thầy tu đuôi dài (Myiopsitta monachus) ở vài thành phố của Bắc Mỹ, sau khi chúng thoát ra khỏi tình trạng nuôi nhốt.

Vài loài khác, bao gồm cò ruồi, diều vằn đầu vàng và vẹt mào ngực hồng đã mở rộng phân bố một cách tự nhiên bên cạnh khu vực phân bố gốc, bởi các hoạt động nông nghiệp đã tạo nên sinh cảnh mới thích hợp cho chúng.

Phân lớp Neornithes gồm:

Paleognathae:

Struthioniformes – Bộ Đà điểu

Tinamiformes – Tinamou

Neognathae:

Anseriformes -Bộ Ngỗng

Galliformes – Bộ Gà

Charadriiformes – Bộ Choi choi (Bộ Rẽ)

Gaviiformes – Chim lặn Gavia

Podicipediformes – Bộ Chim lặn (Bộ Le hôi)

Procellariiformes – Bộ Hải âu (Bộ Chim báo bão)

Sphenisciformes – Bộ Chim cánh cụt

Pelecaniformes – Bộ Bồ nông

Phaethontiformes – Chim nhiệt đới (tropicbird)

Ciconiiformes – Bộ Hạc

Cathartiformes – Kền kền Tân Thế giới

Phoenicopteriformes – Bộ Hồng hạc

Falconiformes – Bộ Cắt

Gruiformes – Bộ Sếu

Pteroclidiformes – Gà cát (sandgrouse)

Columbiformes – Bộ Bồ câu

Psittaciformes – Bộ Vẹt

Cuculiformes – Bộ Cu cu

Opisthocomiformes – Gà móng ở Nam Mỹ (hoatzin)

Strigiformes – Bộ Cú

Caprimulgiformes – Bộ Cú muỗi

Apodiformes – Bộ Yến

Coraciiformes – Bộ Sả

Piciformes – Bộ Gõ kiến

Trogoniformes – Bộ Nuốc

Coliiformes – Chim chuột (mousebird)

Passeriformes – Bộ Sẻ

Chim và gia cầm là một trong những nguồn truyền bệnh chủ yếu ở các cự ly xa đối với con người như các bệnh virút vẹt, bệnh vi khuẩn Salmonella, bệnh vi khuẩn xoắn, bệnh lao gia cầm, cúm gia cầm, sốt hải ly (bệnh do loài ký sinh Giardia lamblia, và bệnh Cryptosporidium gây ra).

Các bệnh này cũng như sự lây lan của chúng cũng được nghiên cứu rất kỹ. Cũng do tầm phổ biến của ngành nuôi gia cầm, việc phát hiện ra các ổ bệnh gia cầm có thể khiến chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp triệt để và ngặt nghèo đối với việc chăn nuôi này.

Vào tháng 9 năm 2007, 205.000 con gia cầm tại Bavière đã bị thiêu hủy, 160.000 gia cầm tại Bangladesh cũng đã bị thiêu hủy vào tháng 2 năm 2008 do phát hiện ra ổ dịch cúm gia cầm… Một số bệnh đặc thù như bệnh Pacheco chỉ có ở các loài thuộc bộ Vẹt.

Nuôi chim cảnh là một trong những thú vui của con người, chúng không chỉ là người bạn tâm giao mà còn là niềm vui, là may mắn của mỗi gia đình.

Một số loại chim được nuôi nhiều như họa mi, sơn ca, chích chòe bởi chúng có giọng hót hay lại không khó nuôi.

Tuổi Thọ Của Chích Chòe Lửa? Góc Tò Mò Giải Đáp / 2023

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy loài chích chòe lửa là khi ba tôi mang nó về nuôi. Thú thực là tôi không thích việc con người nuôi nhốt một chú chim trong chiếc lồng (kể cả nó có xinh đẹp đến đâu). Nó quá tàn nhẫn. Và rồi điều gì đến cũng đã đến. Chú chim nhỏ bị nhốt trong lồng một ngày kia nằm cứng đơ. Nó chết trong lạnh lẽo và cô độc.

Gạt đau buồn qua một bên, tôi chợt tự hỏi nó chết vì lý do gì? Vì bệnh? Vì buồn? Hay đơn giản là vì nó quá già.

Tìm Hiểu Về Chích Chòe Lửa

Chích chòe lửa – một loài chim thuộc giống Chích chòe ( giống này chủ yếu gồm các loại như: chích chòe Lửa, chích chòe Đất, chích chòe Than ) . Tên khoa học của Chích chòe lửa là Copsychus malabaricus. Trong tiếng Anh, nó được gọi là White – Rumped Shama. Chiều dài của nó khoảng 23 – 28 cm, cân nặng dao động từ 28g – 34g. Vì vậy, bạn có thể nâng niu chú chim nhỏ này chỉ bằng môt bàn tay.

Chúng được phát hiện lần đầu vào những năm đầu thế kỉ XX tại Hawaii. Hiện nay, khu vực phân bố của chúng cũng khá rộng rãi, nếu là trong tự nhiên thì hầu như có mặt tại các khu rừng rậm ( nhưng đôi khi chúng cũng có thể sinh sống ở các rừng tre, bụi cây cao tương đối… ) ở các vùng Nam Á, Đông Nam Á… Tuy nhiên có một thời gian chích chòe lửa bị con người bắt giữ quá nhiều mà trở nên khan hiếm, khiến cho một số quốc gia trong khu vực phải nhập loài chim này.

Trong tự nhiên ở Việt Nam, Chích chòe lửa có mặt tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, chúng cũng rất ưa thích sống trong các khu rừng, nông thôn…

Ngoài tự nhiên ra, nơi ở còn lại của nó chính là trong những cái lồng nuôi nhốt.

Loài chim này tuy thuộc giống Chích chòe với một số đặc điểm chung là nhỏ và nhẹ, khá lanh lợi tinh nghịch, màu sắc đen xám… nhưng bản thân chúng lại rất dễ nhận biết. Ở con trống thường là một màu lông đen bóng với phần bụng màu nâu hạt dẻ, phần đít và đuôi ngoài thì lại có màu trắng. Con mái thì khác biệt hơn – đa phần có màu nâu hơi xám, thân hình cũng ngắn và lông không mượt như con trống. Với những con chim non mới nở thì chúng màu lông giống như con mái nhưng phần ức thì có đốm lấm chấm.

Tuy khác biệt về phần thân nhưng nếu cần phân biệt với các loại Chích chòe khác thì riêng Chích chòe Lửa cả trống vài mái đều có mỏ đen, cái chân màu hồng. Đặc biệt, trong thời gian thay lông , lớp lông mới nổi lên rực rỡ với một màu đỏ cam ( có con thì ánh vàng ) ở phần ức và bụng. Vậy nên, chúng mới được gọi là Chích chòe lửa.

Ưu điểm nổi trội nhất của Chích chòe lửa chính là giọng hót này. Chúng có âm giọng rất cao, thánh thót, quãng rộng. Đặc biệt, giọng hót của Chích Lửa rất giàu âm điệu, lại có biệt tài bắt chước được nhiều âm thanh khác nhau : tiếng loài chim khác, tiếng suối chảy, tiếng con người… Khi con người bật nhạc chuông điện thoại ở gần Chích chòe, chúng cũng có thể hót theo gần như là tương tự. Nhiều con rất hay, có thể hót một bản nhạc mà chúng tự hòa trộn các âm điệu đã nghe được trong suốt thời gian qua.

Mùa sinh sản của chúng thường kéo dài từ mùa Xuân cho đến Thu, nhưng hoạt động duy trì nòi giống tích cực nhất lại là từ tháng Tư đến tháng Chín. Con đực thường bay lượn xung quanh con mái và cất giọng hót du dương để thu hút các nàng. Nếu chàng nào có vẻ trổ mã, giọng hát hay truyền cảm thì con mái sẽ đồng ý để con trống đậu lên mình giao hợp. Nếu nàng không thích đối tượng đó hoặc chàng chim trống không đẹp trai, hát không hay thì nàng sẽ kêu và cắn, xua đuổi dữ dội.

Mỗi một cặp chim thường sinh khoảng 4 – 5 trứng đặt trong một cái tổ làm từ lá, vỏ cây khô, có khi là dương xỉ được chúng kết lại, đặt trong hốc cây khá kín đáo và ở một độ cao nhất định để an toàn cho con chúng. Thời gian ấp trứng là khoảng hai tuần, cả chim bố lẫn chim mẹ sẽ làm nhiệm vụ ấp và canh chừng kẻ thù tự nhiên. Nhưng khi trứng sắp nở và lúc chim con nở ra, chim bố sẽ đi kiếm mồi và bay về tổ đưa cho chim mẹ để chim mẹ mớm mồi cho con ăn. Chim non ở với bố mẹ cũng hơn mười ngày rồi sau đó mới tự lập.

Tuổi Thọ Của Chích Chòe Lửa

Thông thường, một con Chích chòe lửa tùy theo môi trường sống mà thời gian tồn tại của chúng trong khoảng từ 10 năm trở lên. Đa phần ở ngoài tự nhiên, chúng khá thọ. Nhưng nếu nuôi nhốt, chăm sóc cẩn thận với điều kiện lí tưởng, gần gũi với thiên nhiên thì chúng cũng có thể sống lên đến 15 năm.

Đặc biệt, Chích chòe lửa nếu được nuôi nhốt từ khi mới nở thì phải mất hai năm – có khi là ba, bốn năm, chúng mới có thể hót như ý muốn của con người. Ở trong tự nhiên, sống cùng đồng loại và nhiều loại chim khác thì chúng đã phát triển kĩ năng này sớm hơn.

Cách Nuôi Chích Chòe Lửa

Chính vì có khả năng ” ca hát ” trời phú mà Chích chòe lửa là đối tượng được con người săn lùng nhiều nhất. Nuôi để làm cảnh là một phần, nuôi để nghe chúng hót và đem đi thi đấu lại còn nhiều hơn. Việc nuôi Chích chòe lửa không còn là điều khó khăn nữa. Nhiều người đã trở thành dân chơi chim sành sỏi – biết lựa con chim nào có thể hót tốt, thậm chí họ còn tìm cách huấn luyện giọng cho chim.

Tôi không rành và cũng không hứng thú với việc nuôi chim cho lắm, nên chỉ xin góp nhặt một số kiến thức nho nhỏ khi nuôi Chích chòe lửa này.

Vậy nên ai muốn mua chim phải biết rõ dấu hiệu về loài và giới tính của chúng, và phải quan sát kĩ lưỡng dưới chân chim. Bởi chim non và chim đã trưởng thành, hót hay thì sẽ có những đặc điểm khác nhau. Những con lâu năm bắt chước được nhiều thứ tiếng – kể cả tiếng người, sành sõi hót hay thì có đôi chân khá dẹt, dưới chân có lớp vảy màu trắng. Những con còn non thì đôi chân của chúng tròn trịa, màu hồng và chưa có vảy nào.

Đáng chú ý thêm là, chim nếu được nhuộm lông ( thường không phải là chim Chích chòe lửa ) thì rất thích tắm. Bởi lớp sơn trên lông luôn khiến chúng có cảm giác nặng nề. Khi tắm chúng cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng bởi gột rửa bớt được lớp sơn đó.

Lồng nuôi cho Chích chòe Lửa cần phải đủ cao và rộng. Bởi giống này khi trưởng thành cái đuôi của chúng khá dài ( hơn 20 cm ).

Nếu mua chim non thì cần chú ý thức ăn cho chúng qua nhiều giai đoạn tới lúc trưởng thành. Có những con quá nhỏ còn chưa học được cách chủ động lấy thức ăn thì người chăm cần phải mớm mồi cho nó. Hãy để ý chúng thường xuyên, đừng để chúng đói hay khát nước. Thức ăn cho Chích chòe lửa tuy số lượng không nhiều nhưng cũng nên đa dạng, phù hợp với từng thời kì của chúng. Ngoài bột đậu phộng trộn với trứng theo tỉ lệ 70 – 30 là thức ăn dặm thì ta có thể cung cấp thêm cho chúng những thức ăn tươi trong tự nhiên : giun đất, cào cào châu chấu, trứng kiến, sâu quy… Những thức ăn tươi này chính là những nguồn dinh dưỡng quan trọng cho chúng trong thời kì thay lông, trưởng thành và giúp chúng có được giọng hót hay.

Đa phần người nuôi chim thì chỉ quan tâm tới giọng hót của chúng. Như đã nói ở mục 2, Chích chòe lửa trong điều kiện nuôi nhốt thì không thể nào hót hay trong vòng 1 năm đầu, sớm lắm là hai năm – có khi trễ hơn. Vậy nên nếu muốn thúc giọng và rèn cho chim nó hót hay lão luyện càng sớm càng tốt thì cần phải cho nó nghe nhiều âm thanh khác nhau, cho nó đi tiếp xúc với đồng loại và các loài chim khác. Bởi trong một cuộc thi đấu chim – người ta sẽ cho các con chim dự thi cùng hót với nhau xen lẫn với nhiều con khác nhằm tìm kiếm xem thử trong môi trường ” hỗn loạn, ồn ào ” ấy, con nào hót khỏe nhất, lâu nhất và giọng hót hay nhất thì con đó mới là chim chiến thắng.

Nuôi chim là một thú vui, nghe chúng hót cho vui cửa vui nhà không xấu. Nuôi chim để đi thi đấu cũng không phải là việc làm tệ hại gì ( Bởi người nuôi nhằm mục đích thi hót thì họ chăm sóc chim rất kĩ lưỡng, cẩn thận ). Tuy nhiên, sự săn tìm khiến cho các loài chim trong tự nhiên ngày càng hiếm đi lại là điều Góc tò mò không khuyến khích. Bởi cái gì cũng cần phải có chừng mực giới hạn. Chúng sinh ra trong tự nhiên, sống tốt trong tự nhiên thì cuộc đời chúng cũng thuộc về nơi đó.

Cách Để Huấn Luyện Vẹt Yến Phụng Thú Cưng / 2023

Yến phụng là loài chim rất thú vị và sạch để nuôi làm thú cưng. thực tại, chúng đứng hàng thứ ba trong số các loài thú cưng được nuôi nhiều nhất, chỉ sau chó và mèo. Loài chim có xuất xứ từ Úc này không đòi hỏi uổng cao, có thể sống vui vẻ ở môi trường trong nhà, thậm chí dần dần chúng còn bắt chước tiếng người nói. Nếu mới mua một chú yến phụng, chắc hẳn là bạn sẽ muốn làm sao để chú vẹt của mình được sống khỏe mạnh và hạnh phúc.

Vẹt yến phụnglà dòng chim vẹt có kích thước nhỏ. Dòng vẹt này khi trưởng thành chỉ dài khoảng 18cm và chúng có tuổi thọ làng nhàng từ 7 – 8 năm.

Phần đầu của chim khá tròn, tỷ lệ kích cỡ đầu rất cân xứng với thân thể của chim. Phần mỏ của chim rất cứng, phần mỏ trên dài hơn bên dưới và có xu hướng quặp xuống dưới.

Đôi mắt của chúng to tròn và đen nhánh. Trên đỉnh đầu của chúng có 1 chiếc mào cấu tạo từ những chiếc lông mao rất mềm và đẹp. Cổ của chim khác tròn, to và dày.

Ngực nở, lưng thẳng rất cân đối so với tổng thể thân của chúng. Đôi chân ngắn và khá to. Ngón chân của chúng khá to, phần móng vuốt cứng và rất chắc. Đuôi của chim khá dài, được bao bọc bởi một lớp lông dài.

Chim yến phụng là dòng nói khá nhiều, nên nhiều khi người nuôi sẽ cảm giác khó chịu vì tiếng nói của chúng.

Trong số các loài vẹt, có thể nói vẹt yến phụng là loài không được nhanh nhạy nhất. nên chi, khi huấn luyện chúng các bạn cần dành nhiều thời gian và công sức hơn khi huấn luyện những dòng vẹt khác.

Thức ăn của loài chim yến này khá đa dạng và phong phú, được chia thành 3 loại chính: thức ăn hạt khô, rau và củ quả tươi, các loại thức ăn bổ sung.

thức ăn hạt khô dành cho chim thường là lúa, gạo, ngô xay, hạt kê… Loại hạt yêu thích nhất của dòng chim này là hạt kê vàng.

Rau và củ quả tươi: loài chim này có thể ăn được hồ hết hết thảy những loại rau (nên loại bỏ rau có vị đắng). Các bạn nên cho vẹt ăn các loại rau cải, xà lách, lá bồ công anh và đặc biệt rau muống (loại rau yêu thích nhất của chúng). Ngoài ra, các bạn nên bổ sung một số loại quả cho chúng như táo hoặc ổi.

Thức ăn bổ sung: trong quá trình nuôi chim, các bạn nên cho chúng ăn thêm bột vỏ sò, bột vỏ trứng, muối và hạt sạn. Cho chi ăn thêm hạt sạn giúp chúng tiêu hóa dễ dàng hơn (tránh được hiện tượng vón cục thức ăn ở trong bao tử).

Để huấn luyện được một chú chim nói hay, các bạn cần dành nhiều thời kì và công sức. Các bạn cần huấn luyện chúng nói ngay từ khi còn nhỏ (từ khi 2 – 3 tháng tuổi).

Hàng ngày, mỗi buổi sáng và chiều tối các bạn nên ra dạy và nói chuyện với chúng. Khi đã nói được những từ căn bản, các bạn nên cho chúng xúc tiếp với nhiều người để có thể nói được nhiều giọng.

Chim yến phụng là loài chim đẹp, có khả năng nhái lại tiếng người rất tốt. vì vậy, chúng được rất nhiều người tình thích và tìm mua. Loài chim này được bày bán rộng rãi ở khắp các thành thị, tại bất cứ cửa hàng bán chim cảnh nào trên Sài Gòn đều có

Giá bán vẹt yến phụng khá rẻ, mức giá ngả nghiêng từ 180 – 400 nghìn đồng/đôi chim.