Hồng Nhung: ‘Tôi Như Con Chim Họa Mi Hót Trong Mưa’

Ca sĩ Hồng Nhung.

– Cố nghệ sĩ Lê Dung từng hát bài này rất thành công. Nhiều người ví chị là Lê Dung thứ hai, chị nghĩ sao?

– Thế thì hãnh diện quá, vì cô Lê Dung là nghệ sĩ mà ai cũng kính nể. Nhưng cô Dung hát nhạc cổ điển, có những kỹ thuật mà suốt đời tôi không học hỏi được. Riêng Họa mi hót trong mưa, tôi không hề lặp lại cách thể hiện của cô Lê Dung, bởi mỗi thế hệ, mỗi cá nhân ca sĩ đều có cách thẩm thấu nội dung bài hát khác nhau. Cái may là tôi thích bài hát này, đến khi xuất hiện, khán giả cũng đón nhận và yêu thích nó.

– Chị thể hiện “Họa mi hót trong mưa” rất có hồn, có bí quyết gì vậy?

– Vì tâm hồn tôi hòa hợp với bài hát. Khi hát, tôi rung động và cảm động thật sự. Tôi thấy hơi tồi tội vì hình như mình cũng là con chim họa mi, mình hát lâu và bền bỉ, trong đó có cả hạnh phúc, nhưng không phải lúc nào trời cũng nắng. Nhạc sĩ Dương Thụ có một đứa con gái mất năm 17-18 tuổi. Có thể bài hát cũng có phần dành cho con gái chú và tôi đọc được sự trầm buồn trong nhạc của chú.

– Theo chị, ca sĩ nổi tiếng có cần phải hát nhạc của nhạc sĩ nổi tiếng?

– Tôi và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng nói chuyện với nhau về vấn đề này. Chúng tôi đều có chung ý kiến: Nhạc sĩ nổi tiếng hay không không quan trọng, vấn đề là người ca sĩ phải lựa chọn bài hát phù hợp với mình, tâm hồn phải có sự đồng điệu với nội dung bài hát. Trước đây, tôi có hát bài Lời của gió của anh Duy Thái. Anh Thái là người rất tài năng, nhưng lúc đó anh là nghệ sĩ kịch và không ai biết đến anh với tư cách nhạc sĩ. Sau này, tôi tiếp tục hát nhạc của anh như Tình yêu đầu tiên, Hãy đến với em, Tìm tên anh trên bờ cát… dù thời điểm đó anh Thái chưa phải là nhạc sĩ nổi tiếng.

– Khi nhận lời một show diễn, đâu là vấn đề chị quan tâm nhất: cát-xê, chất lượng nghệ thuật, đối tượng khán giả…?

– Phần lớn các ca sĩ chuyên nghiệp đều quan tâm tới tất cả các yếu tố. Trong đó, yếu tố nghệ thuật phải được nhấn mạnh, vì nếu không thì chẳng bao giờ mình có thể trụ hạng lâu trong lòng công chúng.

– Là một ca sĩ được đánh giá cao về khả năng giao tiếp. Nguyên tắc đứng trước đám đông của chị là gì?

– Tôi luôn tôn trọng người đối diện. Sự tôn trọng này thể hiện ở nhiều chỗ, như cách ăn nói lịch sự, ăn mặc phù hợp.

– Nhưng lại có một số ý kiến cho rằng Hồng Nhung quá khéo léo, thậm chí khéo đến giả dối, chị nghĩ sao?

– Tôi đã nghe khá nhiều người nói về tôi như thế. Đúng là tôi có khéo léo và nhiều khi người ta không thích như vậy. Nhưng biết làm sao được, tôi là người cẩn thận, cả trong cuộc sống và giao tiếp, nếu thay đổi thì sẽ không còn là tôi nữa.

– Sau thành công của “Ngày không mưa”, có thông tin rằng Hồng Nhung và Quốc Trung, người phối khí cho album, có một mối tình, chị thấy thế nào?

– Có thì vui quá, nhưng tôi và Quốc Trung chưa bao giờ vượt xa hơn tình bạn thân. Thân từ khi Trung và Thanh Lam chưa chia tay nhau, bây giờ tình bạn của chúng tôi vẫn vậy.

(Theo Thương Mại)

Họa Mi Trong Tiếng Tiếng Anh

Truyện “Chim họa mi” của Andersen thường được coi là một tặng phẩm mà ông dành cho cô.

Andersen’s “The Nightingale” is generally considered a tribute to her.

WikiMatrix

“Ca sĩ Họa Mi: Tôi sẽ trở về”.

“Prodrive: we’ll be back”.

WikiMatrix

Chồng về Việt Nam còn Họa Mi ở lại một tay chăm sóc ba đứa con.

A widower and father has to take care of his three children.

WikiMatrix

♪ Chú chim họa mi với cuốn sổ của mình ♪

The throstle with his note so true

OpenSubtitles2024.v3

Chim họa mi!

Nightingale!

OpenSubtitles2024.v3

Khi hoàng đế gần chết thì tiếng hót của chim họa mi đã phục hồi sức khỏe cho ông ta.

When the Emperor is near death, the nightingale’s song restores his health.

WikiMatrix

Hoàng đế Trung Hoa biết rằng một trong những điều đẹp nhất trong vương quốc của mình là tiếng hót của chim họa mi.

The Emperor of China learns that one of the most beautiful things in his empire is the song of the nightingale.

WikiMatrix

(Mi-chê 1:1) Những minh họa Mi-chê dùng để nhấn mạnh các điểm trong thông điệp của mình cho thấy ông quen thuộc với đời sống thôn dã.

(Micah 1:1) The prophet’s familiarity with rural life is evident in the type of illustrations he uses to stress the points of his message.

jw2024

Thật kỳ lạ, truyện “chim họa mi” đã trở thành một hiện thực cho Jenny Lind trong các năm 1848-1849, khi cô yêu nhà soạn nhạc Ba Lan Frédéric Chopin (1810-1849).

Strangely enough, the nightingale story became a reality for Jenny Lind in 1848–1849, when she fell in love with the Polish composer Fryderyk Chopin (1810–1849).

WikiMatrix

Sibley & Ahlquist (1990) hợp nhất “chích Cựu thế giới” với chim dạng khướu/họa mi và các đơn vị phân loại khác trong siêu họ Sylvioidea theo kết quả từ các nghiên cứu lai ghép ADN-ADN.

Sibley & Ahlquist (1990) united the “Old World warblers” with the babblers and other taxa in a superfamily Sylvioidea as a result of DNA–DNA hybridisation studies.

WikiMatrix

Đi ngang qua, chữa lành hai người mù; đến nhà Xa-ki-ơ; minh họa: mười mi-na

Passing through, heals two blind men; visits Zacchaeus; ten minas illustration

jw2024

Ngài điều chỉnh quan điểm đó bằng cách đưa ra minh họa về mi-na.

He corrected that idea by giving them the illustration of the minas.

jw2024

Bạn có thể giải thích minh họa của Mi-chê về cái nồi không?

Can you explain Micah’s illustration involving a cooking pot?

jw2024

Mặc dù không đa dạng như họ Timaliidae (họ Họa mi) (một “đơn vị phân loại thùng rác” khác chứa nhiều dạng giống như hoét), ranh giới giữa họ “liên-Muscicapidae” trước đây còn mờ mịt hơn.

Though by no means as diverse as the Timaliidae (Old World babblers) (another “wastebin taxon” containing more thrush-like forms), the frontiers between the former “pan-Muscicapidae” were much blurred.

WikiMatrix

Truyện “Chim họa mi” khiến cho Jenny Lind được gọi là Chim họa mi Thụy Điển trước khi cô trở thành một siêu sao quốc tế và nhà từ thiện giàu có ở châu Âu và Hoa Kỳ.

“The Nightingale” made Jenny Lind known as The Swedish Nightingale well before she became an international superstar and wealthy philanthropist in Europe and the United States.

WikiMatrix

Cùng với các loài khướu mào (và có thể là cả một số chi khác của họ Timaliidae), thì các giới hạn giữa nhánh vành khuyên với nhánh họa mi “thật sự” của Cựu thế giới trở nên không rõ ràng.

Combined with the yuhinas (and possibly other Timaliidae), the limits of the white-eye clade to the “true” Old World babblers becomes indistinct.

WikiMatrix

Ở cấp độ chi tiết hơn, hiện nay một số tác giả đặt sơn ca ở gần như mức bắt đầu của siêu họ Sylvioidea cùng với các loài nhạn, các nhóm “chích Cựu thế giới” và “khướu và họa mi” khác nhau.

At a finer level of detail, some now place the larks at the beginning of a superfamily Sylvioidea with the swallows, various “Old World warbler” and “babbler” groups, and others.

WikiMatrix

Vài ngày trước, tại Giê-ri-cô, ngài đã đưa ra minh họa về mi-na để cho thấy Nước Trời vẫn còn xa.

A few days earlier, while he was at Jericho, he gave the illustration of the minas to show that the Kingdom was yet far off in the future.

jw2024

Jeffrey và Diane Crone Frank đã lưu ý rằng truyện thần kỳ này “là chắc chắn lấy cảm hứng từ lòng say mê của Andersen đối với Jenny Lind, người đang trở nên nổi tiếng khắp châu Âu và Hoa Kỳ như là một chim họa mi của Thụy Điển.

Jeffrey and Diane Crone Frank have noted that the fairy tale “was no doubt inspired by Andersen’s crush on Jenny Lind, who was about to become famous throughout Europe and the United States as the Swedish Nightingale.

WikiMatrix

“Chim họa mi” (tiếng Đan Mạch: “Nattergalen”) là một truyện thần kỳ của nhà văn người Đan Mạch Hans Christian Andersen về một hoàng đế thích tiếng leng keng của một con chim giả có trang bị bộ máy phát ra tiếng kêu hơn là tiếng hót của con chim họa mi thật.

“The Nightingale” (Danish: “Nattergalen”) is a literary fairy tale written by Danish author Hans Christian Andersen about an emperor who prefers the tinkling of a bejeweled mechanical bird to the song of a real nightingale.

WikiMatrix

Theo nhật ký năm 1843 của Andersen thì truyện “Chim họa mi” được sáng tác trong ngày 11 và 12 tháng 10 năm 1843, và “bắt đầu viết ở công viên giải trí Tivoli”, một công viên giải trí ở trung tâm Copenhagen với các hoa văn trang trí kiểu Trung Quốc, được khai trương trong mùa hè năm 1843.

According to Andersen’s date book for 1843, “The Nightingale” was composed on 11 and 12 October 1843, and “began in Tivoli”, an amusement park and pleasure garden with Chinese motifs in Copenhagen that opened in the summer of 1843.

WikiMatrix

“Học từ minh họa về mười mi-na”: (10 phút)

“Learn From the Illustration of the Ten Minas”: (10 min.)

jw2024

Học từ minh họa về mười mi-na

Learn From the Illustration of the Ten Minas

jw2024

232 100 Minh họa về mười mi-na

232 100 His Illustration of Ten Minas

jw2024

Tại sao Chúa Giê-su kể minh họa về những mi-na?

What prompts Jesus’ illustration of the minas?

jw2024

Lưu Ý Trong Cách Nuôi Chim Họa Mi Thay Lông

Lưu ý trong cách nuôi chim họa mi thay lông

Tắm cho chim thường xuyên 1 lần/ ngày để làm sạch các tế bào lông chết, giúp lông chim đẹp và bóng mượt hơn

Phơi nắng cho chim vào buổi sáng, đẹp nhất vào khoảng 6h – 7h sáng khoảng 10 – 15 phút

Trong thời kỳ thay lông cần cho chim ăn những loại mồi tươi, cho ăn vào buổi sáng hoặc buổi trưa.

Bổ sung các chất xơ cho chim như cám gà con, cám cò trứng, ngô, dế, cào cào, châu chấu, giun đất, nhộng tằm,… Hạn chế cho chim ăn những loại chim chào mào to vì chúng có rất nhiều sán

Chùm kín lồng bằng khăn để chim họa mi có thời gian nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng

Chim thay lông tốt nhất nên cho ra một không gian riêng, tuyệt đối không cho nhìn thấy mái và cũng đừng để nó phải đấu hót với những con chim khác. Chim có thời gian ăn uống nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng,khi thay lông lá xong xuôi, lông khô và ôm vào thì mới treo chim lên, kè mái và luyện hót.

Thức ăn cho chim họa mi thay lông

Trong cách nuôi chim họa mi thay lông, người nuôi cần phải cho chúng ăn cám cò trứng hoặc ngô trứng, cho ăn theo tỷ lệ 3-4 đỏ trứng gà / 1 lạng cám cò. Đồng thời tăng cường thêm châu chấu, cào cào, dễ,…

Nuôi Họa Mi, có con sẽ không quen ăn mồi tươi thì chủ chim nên tập cho chim thoái quen ăn mồi tươi bằng cách tháo cóng đựng cám ra và cho vào lồng ít mồi tươi thì chim khi đói sẽ phải ăn. Không nên cho chim Họa mi  ăn sâu quy vì chim sẽ bọ bó lông và lông khi thay sẽ bị quăn.

Thuật Ngữ Bổ Ích Trong Thú Chơi Họa Mi

THUẬT NGỮ BỔ ÍCH TRONG THÚ CHƠI HỌA MI

Lịch sử chơi chim đã có từ rất lâu, đặc biệt là Hoạ Mi. Trong quá trình chơi, dân chơi HM đã tạo ra rất nhiều thuật ngữ, tiếng lóng để chỉ vật dụng nuôi, để nhận định đánh giá trạng thái, chất lượng, khả năng,hình thái… Từng chi tiết từng bộ phận của con Họa Mi.

– Lồng phóng:

Dùng để tập thể lực cho HM chọi nên có kích thước lớn, thường được làm bằng tre, trúc, có đường kính từ 50cm đế n60cm cao từ 1,2m đến 1,5 m.

– Lồng chiến:

Đây là lồng nuôi HM đực để chọi nhau (đá nhau) được làm bằng tre ,trúc, cũng có nhiều kích cỡ, nhưng chủ yếu có đường kính đáy lồng khoảng 36cm, chiều cao tính cả chân lồng khoảng 60cm (chân thường cao 15-16cm). Lồng chiến là lồng được chú trọng nhất, được thửa rất công phu, đặc biệt là sàn lồng và cửa lồng. Trên sàn có bàn chiến.

– Bàn chiến:

Là một bộ phận cùa sàn lồng, tiếp giáp với cửa lồng, có hình bán nguyệt, chỗ rộng nhất khoảng 10-11cm, trên mặt bàn chiến người ta đóng những thanh tre song song để tạo chỗ cho chim tì chân, đuôi để lấy thế chọi nhau, cũng có loại bàn chiến rời, khi chọi mới lắp vào, thường được làm bằng gỗ thông trắng (cùa TQ), khi lắp vào loại bàn chiến này thường có độ dốc khoảng 5 độ, sau cao trước thấp, thay cho những thanh đóng người ta khoét thủng thành những rãnh.

– Cầu đậu:

Tôi chỉ nói qua về cầu gạo thôi, Thực ra nó không phải là cành gạo như ta tưởng, tiếng Tày Nùng gọi cây này là: Kiều nộc có nghỉa là cầu chim. thuộc họ thân gỗ, chiều cao trung bình khoảng 3m, thường thấy mọc tại các khu vực đất cằn ven đồi (đất càng cằn cỗi càng có hy vọng tìm được cầu đẹp) có tán lá rất giống cây Hoa hoè, rất dễ nhận từ xa. Các cụ cho rằng chim đậu cầu này có tác dụng luyện da chân chim dày dạn, ít bệnh tật….

Ngoài hai loại lồng trên cón có lồng mái, lồng mồi.

– Lồng mái: thường có đường kính đáy khoảng 35cm,cao khoảng 40cm,dùng để nhốt mái HM nhằm thúc my đực chọi.

– Lồng mồi: có kích thước nhỏ nhất nhưng được làm chắc chắn, nan, vanh đều to, trước khi dùng thường đươc hun khói và bôi nhựa lá cây (sát lá rừng vào nan lồng nhiều lần) làm cho lồng có mùi và màu giống tự nhiên. Đây là lồng đựng chim mồi để bẫy chim rừng, có đường kính đáy khoảng 25cm, cao khoảng 30cm.

Trước đây các Cụ còn có lồng LƯU ĐIỂU to hơn lồng mái một chút (lồng mái có 48 nan, lồng lưu điểu 52 nan, lồng chiến 56 nan, lồng phóng từ 64 nan trở lên) đường kính đáy lồng khoàng 37cm cao 40cm, dùng để xách chim đi chơi (đi dượt) bây giờ thấy ít người dùng.

Lại tiếp tục tự biên tự diễn đây.

– Lồng Vác: Đây là từ chỉ các loại lồng do những người ở làng Vác, xã Nhân hoà, huyện Thanh oai, Hà tây (nay là HN) sản xuất, mới đầu nó chỉ mang tính chất nông phẩm phụ, khi xong việc đồng áng, nhưng hiện nay nhiều nhà ở đây đã bán hoặc cho thuê ruộng, bỏ hẳn việc làm ruộng để chuyên tâm làm lồng. lồng Vác đã có mặt hầu khắp các tỉnh Bắc bộ và đã có chỗ đứng trong giới chơi chim, do giá cả hợp lý và hình thức ngày một mỹ thuật, thiếu sót của lồng Vác là những người làm lồng đều không chơi chim nên lồng thiếu tính thực dụng, không sáng tạo và nghiêm trọng nhất là tính giả dối về chất lượng còn khá phổ biến.

– Lồng Thổ:

Đây là từ chỉ những chiếc lồng do những người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Miền núi phía bắc chế tác,chủ yếu là lồng MY, ngoài ra cũng có một số ít lồng gáy và đa đa. Do chỉ được làm khi có nhu cầu sử dụng của bản thân, nên số lượng rất ít. Quy trình chế tác, vật liệu, kích cỡ, hình dáng…rất đa dạng. Đồ nghề nhiều khi rất đơn giản, chỉ có con dao và cái dùi sắt nung lửa để dùi lỗ vanh, vì vậy phần lớn trông cục mịch, thô , nhưng rất thật, rất hữu dụng và đầy ắp tính văn hoá bán địa. Hiện nay cũng đã xuất hiện một vài nơi (Vân an, Chiến thắng…ở LS) bà con dân tộc ít người cũng đã bắt đầu sản xuất lồng trong thời gian nông nhàn, đem ra chợ phiên tại TP LS để bán, những chiếc lồng này đã bị thương phẩm hoá nên tính văn hoá và chất lượng đã giảm nhiều.

– Cóng (coóng):

Là vật dụng dùng để dựng thức ăn và nước cho chim, trước đây thường được làm bằng sứ và được trang trí hết sức cầu kỳ, các họa tiết nhỏ li ti đều được vẽ bằng tay, hình dáng cũng rất đa dạng (hiện nay cũng có 1-2 cửa hàng ở HN bán bán loại này). Bây giờ người ta “cải lùi” làm nó bằng nhựa, thủy tinh tuy xấu nhưng rất rẻ.

– Trung sa (khung chọi):

Khi chọi chim người ta áp hai cửa lồng vào nhau, để chim chọi nhau qua những song cửa , nhưng vì cửa lồng của mỗi người khác nhau, song cửa cũng to nhỏ không đều nên thường gây ra những vấn đề không thống nhất vì vậy người ta nghĩ ra cái TRUNG SA. (TRUNG=ở giữa, SA=là cái mành hay cái chấn song cửa sổ). Trung sa thường được làm bằng gỗ, có chiều rộng mép trong khoảng 8,5cm, chiều cao khoảng 40cm, có hai thanh chấn song tre (có đk khoảng 0,5cm) ngăn trung sa ra làm 3 khoảng cách bằng nhau (khoảng 2,6cm) chim có thể thò đầu sang để chọi nhau, nhưng không thể chui hẳn sang (thông lồng), chọi qua trung sa xem hơi tức mắt (vì vướng nhiều thứ) nhưng giữ được chim chơi lâu dài.

– Chọi Hội: Trước đây nhân các ngày hội dân gian ở miền núi như Hội lồng tồng, Hội đầu pháo… và các Tiết âm lịch, các Cụ thường tụ tập dăm mười người đem chim ra chọi chơi rồi cùng nhau ăn uống, khen chê v.v chủ yếu để vui và tập dượt nên mới gọi là chọi hội. Còn bây giờ do nhu cầu của người chơi và do thông tin đã phát triển nên người ta có thể tổ chức chọi hội bất cứ ngày nào nếu thấy cần thiết.

Chọi hội thường được một Tổ chức nào đó đứng ra bao thầu (thường là Hội SVC của nơi sở tại diễn ra chọi hội). Quy mô cũng rất đa dạng, có thể chỉ diễn ra trong 1 xã, 1 huyện, nhưng cũng có thể cả tỉnh và liên tỉnh, số lượng có thể lên đến 70-80 đôi chim. Người tham gia chỉ việc mang chim đến địa điểm quy định, đăng ký và nộp Tiền đầu lồng (khoảng 100 nghìn-200 nghìn/con). Quy tắc chọi hội là CHỌI VÒNG TRÒN, LOẠI TRỰC TIẾP, con chọi thắng cứ tiếp tục chọi cho tới lúc thua hoặc chủ chim cảm thấy chim của mình đã đủ điểm nhận giải hoặc đơn thuần là để giữ chim thì có thể xin thôi chọi.

Cách tính điểm là bằng phút, mỗi phút người ta quy định là 100 điểm để tiện cho việc cộng dồn vì nhiều con chọi chưa đến 1 phút đã thua, con thắng sẽ được cộng dồn số lẻ này. Cơ cấu giải gồm :1,2,3 và Điện quân, kèm theo cờ và chút tiền thưởng gọi là có (thường kinh phí thưởng bằng kinh phí giải Ba).

Ý nghĩa của chọi hội vẫn như xưa (để lựa chọn chim tài, chim hay). Nhưng bên trong còn có những giao kèo CHỌI TAY ĐÔI của những cao thủ lồng ghép vào, nên không khí chọi hội bây giờ cũng căng không kém gì, và sau khi mãn cuộc thường là những cuộc ngã giá – một cơ hội tốt cho những người chuyên gột chim chọi.

– Chọi đôi: Đây là hình thức chọi giữa 2 con chim của hai chủ chim với nhau (không phụ thuộc Ban bệ nào cả) nó được hình thành trên cơ sở lời mời đầy tính thách thức. Có thể nói CHỌI TAY ĐÔI là SỨC SỐNG TINH THẦN, là ĐỘNG CƠ CHÍNH để nghề chơi chim HM liên tục phát triển rộng rãi và sâu.

Mỗi một cuộc chọi tay đôi diễn ra là một cuộc đấu trí, một cuộc trải nghiệm tay nghề và danh dự không những của một con người mà còn là cả một môn phái, một địa danh nào đó nên thường được cân nhắc tính toán rất kĩ, chim phải bảo đảm ở giai đoạn căng lửa nhất vì vậy các trận tay đôi thường rất ác chiến, xem rất đã mắt. Không khí trận mạc lại được hâm nóng thêm bởi những khoản cá cược đi kèm, có trận lên đến vài chục tr…bởi thế nên đã dính vào nghề này rồi là khó cai lắm.

Để đảm bảo công bằng địa điểm chọi thường được chọn ở nơi trung gian cho cả hai phía để không ai lợi sân nhà cả, nên thường phải mang chim đi xa có khi hàng 100km, vất vả khó khăn là thế nhưng nó luôn là ước mơ của bất cứ ai “không may” nghiện nó.

Cũng có những cuộc chọi tay đôi “ăn liền”, như gặp nhau tại chọi hội, gặp nhau khi đi dợt.. nhưng thường chóng vánh và thiệt hại chiến tranh không đáng kể.

– Bám lồng: Khi con HM đã đủ lửa, chỉ cần nghe thoáng xa có tiếng con khác, nó lập tức nhảy lên bám vào nan và vanh lồng, thò cả mỏ ra ngoài, ngó nghiêng cảnh giác và không ngừng hót sổng rất đanh, có con còn mổ sàn, mổ cửa lồng trông rất hung dữ.

– Bám Cửa: Khi chọi nhau hai con thường nhảy sát về phía cửa lồng để tiếp cận đối phương, có con bám sát trung sa chọi tới lúc phân chia thắng bại gọi là đánh bám cửa, có con đứng xa cửa ***g chọn thời cơ mà đánh thì gọi là đánh khôn hoặc đánh xa.

– BẬT BUNG: chim chưa đủ lửa mà đã đem đánh, không dám xuống cầu, cứ đậu trên cầu đuôi hất lên hất xuống liên tục gọi là Bật bung.

– XUỐNG CẦU: khi chọi nhau hai con chim đang đậu trên cầu lồng mình, vừa nhìn thấy chim đối phương là nhảy ngay xuống cửa lồng nghênh chiến động tác này gọi là xuống cầu.

– THÔNG LỒNG: Khi chọi chim HM nhiều trường hợp phân định thắng thua không rõ ràng vì người ta quy định nếu con A xuống cầu 3 lần (xuống cầu đợi đánh không tháy đối phương tiếp cận lại nhảy lên, rồi lại nhảy xuống đợi 3 lần mà con kia vẫn không xuống) thì con A sẽ được xử thắng. Nhưng có trường hợp con A xuống càu 2 lần vừa nhảy lên cầu thì con B lại xuống cầu, khi con A nhảy xuống thì con B lại nhảy lên cầu như vạy là phải đếm lại từ đầu, nếu không chịu xử hoà thì người ta bắt buộc phải bỏ trung sa cho đánh thông lồng hai con lao vao ***g của nhau đánh cho tới lúc một con thua hẳn. Cũng có trường hợp chim nhỏ nhưng căng nên khi chọi, lách luôn qua trung sa đánh đối phương ở sân đối phương luôn và thường thắng. Còn ở bên Tàu thì chỉ chọi thông lồng chứ không có kiều chọi qua trung sa như ta.

– KHÓA: Khi chọi nhau HM dùng chân túm chặt lấy đối phương, đè lên hoặc kéo đối phương về vể phía mình vừa gây thương tích cho đối phương lại vừa hạn chế những cú đánh của đối phương đồng thời tạo ra thời cơ tốt nhất để đánh trả đối hương một cách chính xác – động tác này gọi là Khóa. Miếng khóa càng trở nên nguy hiểm khi chọi qua trung sa vì hai chấn song trung sa sẽ tạo ra điểm tỳ khiến cho con bị khóa rất khó thoát ra được,chỉ còn cách giơ đầu mà chịu đòn, nhiều con HM rất hay nhưng lại thua chỉ vì miếng khóa.

– ĐÒN LAO: Đây là miếng đánh thường thấy ở những con HM có tướng “Ngũ đoản”, đang đậu trên cầu, trọng tài chỉ vừa mở trung sa, thoáng thấy đối phương là lao vút như mũi tên thẳng vào cửa chiến nghe phập một cái, đòn này nguy hiểm cho cả hai vì nếu đánh trúng đối phương thì sẽ bị cú phủ đầu rất mạnh, dễ giật mình mà choáng còn nếu đối phương tránh được thì con lao sẽ đập hai bên mặt rất mạnh vào chấn song trung sa, rất dễ toét mặt (Vì vậy nếu bạn có con ngũ đoản thì mỗi lần áp thử bạn nhớ phải cho chúng thấy nhau từ xa).

– CHÓOC: Đây là tiếng kêu đặc trưng của HM (cả đực và cái) ở thời kỳ thiếu lửa, nếu để gần những con căng lửa thì tiếng kêu này càng nhiều và liên tục hơn (tiếng kêu tựa như: chóc chóc,chóc chóc ). HM đá mà có tiếng kêu này thì rất ít khi chịu đá (cũng có trường hợp ngoại lệ).

– XÙ ĐẦU: HM đá cũng có hiện tượng kỵ dơ/rơ nhau, có con đánh thắng nhiều con khác nhưng lại không dám đánh một con nào đấy, hễ cứ nhìn thấy là lông đầu dựng lên, cổ rụt lại, kêu chóc chóc liên tục, hiện tượng này gọi là xù đầu, hiện tượng xù đầu còn thường thấy ở chim mộc, chim non khi áp gần lồng chim thuộc, hoặc chim con nuôi lên khi chủ nhân đến gần chúng cũng dựng lông đàu lên chờ chù vuốt ve.

– GỌI LÊN: Khi chim đã bắt đầu có lửa hoặc chim căng lửa, chủ chim bặm môi rồi bật ra những âm thanh tựa như gà mẹ gọi gà con vậy, lập tức chim HM sẽ nhún lên nhún xuống miệng chim cũng phát ra những âm thanh tương tự sau đó là kềm theo vài tiếng hót nghe rất thách thức, hiện tượng này được gọi là GỌI LÊN.

– BÚNG CÁNH: HM thuộc hoặc dở khi áp lồng con đực vào sát con mái, cả hai con sẽ dương cánh lên, hai cánh rung, vẫy liên tục, nhanh, miệng đồng thời phát ra âm chéc, chéc. Quan sát chim lúc này thấy thần thái khác hẳn, phần lớn trông chim đẹp hẳn lên. HM đực trước khi lao vào nhau đấu đá cũng có động tác búng cánh nhưng chỉ thoáng qua. My bổi già rừng đang có lửa cũng có con búng cánh khi thấy mái.

– CHÙY, TE: Đây là từ để chỉ tiếng kêu của chim HM mái, người ta làm ra một loại còi để thổi bắt chước tiêng mái kêu, chiếc còi này cũng được gọi là cỏi chùy.

– HỘ ĐỰC: Khi chọi chim, người ta thường để hai con mái cạnh hai con đực, trong lúc con đực đánh nhau thì con mái cũng nhảy lên nhảy xuống miệng không ngừng phát ra những âm thúc giục, có con mái hăng còn chùy liên tục khiến con đực đá quên chết, động thái trên gọi là hộ đực.

– MI THUỘC: đây là chim HM đã đuợc nuôi trong lồng ít nhất 12 tháng, đã 2 lần thay lông trong lồng, tính cách, hình thể đã hoàn toàn ổn định (to, nhỏ, ngắn dài, chọi,hót, hoạt, định, đã rõ ràng) đã quen người,hoàn cảnh nuôi dốt, môi trường thành thị và có thể điều khiển cho hót theo ý chủ. (tất nhiên là chủ nuôi phải đúng phương pháp).

– MI CON NUÔI LÊN: đây là loại chim HM được bắt từ trong ổ, người nuôi phải đút mớm cho chim ăn hàng ngày như một một bà mẹ chim (có lẽ chim hm con cũng nghĩ như vậy). Cho tới lúc chúng tự biết ăn (khoảng 20 ngày) chúng cũng có những đặc tính như my thuộc, nhưng vì do người nuôi trong môi trường khác hẳn tự nhiên nên giọng hót có nhiều âm tạp và đặc biệt là tỷ lệ chùy mái khá cao (chim đực nhưng trước khi hót lại chùy vài tiếng rồi mới hót giọng đực). Ở ngoài bắc ít người nuôi nhưng trong nam thì nhiều người thích nuôi đặc biệt là các bác người Hoa và nuôi cực giỏi luôn.

– CHIM MỘC DỞ: đây là loại chim đã được nuôi trong lồng từ 3 tháng đến dưới 1 năm (đã một lần thay lông trong lồng hoặc chưa lần nào) đã tương đối quen người nhưng tính cách hình thái chư ổn định.

-CHIM MỘC(BỖI): Đây là chim mới bẫy được, còn dốt trong hộc nhỏ, đã biết ăn cám, gạo, nhưng còn rất nhát, khi mua về thả ra lồng to nếu không có phương pháp chúng sẽ sợ nhảy thúc vỡ cả mặt mũi và không giám hót. (chim rất hay mất móng trong thời kỳ này) tuy vậy nó vẫn được người chơi mua nhiều nhất vì một phần do giá rẻ một phần người nuôi cũng muốn thông qua việc nuôi dạy mà thu được kinh nghiêm, giết được thời gian nhàn rỗi, con chim sẽ có những phản xạ do mình áp đặt và cái cảm giác “CON CHIM CỦA TÔI” mới rõ ràng,tạo cho người chơi hưng phấn..

– CHIM GIÀ RỪNG (TQ gọi là LÃO MAO ĐIỂU hoặc QUÁ CHI TỬ): Đây là chim HM đã sống ít nhất 1,5 năm trong tự nhiên, đã 2 lần thay lông trở lên, bản năng hoang dã đã rõ ràng, đã có cứ địa, đã sinh con đẻ cái. Nhát người khó thuần nhưng ít bệnh tật, hót hay và hay chọi, những người chơi chim có kinh nghiệm luôn săn tìm mua loại này.

– CHIM NON (TỀ MAO ĐIỂU): Đây là chim đã sống trong tự nhiên từ 7 tháng tới 1 năm tuổi, đã thay lông 1 lần, tính hoang dã đã hình thành khá rõ, đã có cứ địa, nhưng chưa sinh đẻ lần nào, mẫu mã rất bắt mắt, chậm hót, nhưng tương đối dẽ thuần, ít khi thành chim chọi.

– CHIM TƠ (NGUYÊN MAO ĐIỂU): đây là chim mới có tuổi đởi tự nhiên từ 1 đến 5 tháng tuổi,mới rời tổ, vẫn sống theo đàn, đã tự kiếm ăn nhưng vẫn cần bố mẹ cho ăn và bảo vệ, chưa có lãnh địa, chưa thay lông. Dễ thuần, mau hót và cũng siêng hót,nhiều con dám đấu hót với cả chim thuộc. Rất khó trở thành chim chọi.

– CHIM CON(OA SỒ ĐIỂU): Đây là chim mới nở còn nằm trong tổ, chưa biết tự ăn, người nuôi phải đút cho ăn (thường là dưới 10 ngày tuổi) hay mắc bệnh (quăn lông, vẹo chân, lệch mỏ…) cần chăm sóc chu đáo, nhưng rất bạo, thuần và nếu biết cách có thể dạy được nhiều trò,hay hót .

– ỐP MÁI: Khi nuôi chim chọi người ta thường nuôi kèm 1 chim mái để kích thích chim đực nhằm duy trì bản năng bảo vệ mái (một trong những động cơ chính khiến HM chọi nhau). Bình thường người ta cách ly đực và cái chỉ có thể nghe tiếng mà không nhìn thấy nhau, cứ vài hôm mới cho chim cái và đực nhìn thấy nhau bằng cách để hai lồng sát nhau, vạch rộng áo lồng khoảng 1-2 tiếng cho chúng quấn quýt nhau cho tới khi cảm thấy chúng đã trở lại bình thường người ta lại tách chúng ra,như thế gọi là ốp mái.

– CÔNG,Ủ: Khi nuôi chim chọi, mỗi người có một nghệ thuật riêng,có người cứ nuôi với một loại thức ăn đều đều khi cần là cứ thế chọi ngay (thực tế cũng nhiều người đánh giải theo kiểu này) nhưng phần lớn là khi sắp chọi một thời gian (khoảng 7-10 ngày) người ta cho ăn một loại thức ăn khác ngày thường với những công thức rất ít khi được tiết lộ làm cho chim hăng hẳn lên, kết hợp với việc phủ áo lồng,ốp mái đúng cách nhàm làm cho chim đạt điểm rơi tối đa, như vậy ta gọi là công chim.

– HÃM: Những người chơi theo lối công thì sau khi chọi xong, người ta lại chuyển chim sang chế độ ăn bình thường nhằm làm cho chim bớt sung dể giữ chim chơi dài dài, lúc này thường người ta cho ốp mái liên tục và thường xuyên mở rộng áo lồng,tắm nhiều…

– LÒI CẢO (hở gối): Phần đông lông đùi HM phủ kín đầu gối, nhưng có một số ít (khoảng 2-3%) đầu gối bị hở, không có lông che phủ, người ta gọi loại HM này là Lòi cảo. Phần lớn thuộc cỡ trung bình hoặc nhỏ, không trường không đoản, cẳng chân cao, móng dài. Loại này không dát bằng loại phương đầu nhưng có cái tật là nhảy nhiều nhưng biết tránh nên không vỡ đầu, gãy đuôi, nuôi 2 năm lồng nhưng hễ thấy gì khác biệt là cứ nhảy xoành xoạch trông rối cả mắt, nhưng được cái hay là hót nhiều và rất đanh. Không chọi nhưng cũng không xù đầu bao giờ.

– PHÁ VỸ (Sát mỷ): Ai mua phải con này thì thật là đen đủi vì thường giống này hót rất nhiều,cũng có con chọi nhưng không thể giữ nổi cái đuôi kể cả thay lông tự nhiên hoặc bạn nhổ lông gãy thúc mọc lông mới thì chỉ vừa nhú ra được một phần là lập tức lại bị gãy cụt, nguyên nhân là do nó không biết cách nhảy nên cứ mỗi lần nhảy lên bám vào nan lồng đuôi của nó cứ thò ra ngoài cọ vào nan làm đuôi cong như dấu hỏi ,được vài bữa là gãy sạch.

– HOA ĐẦU: Phía trên đỉnh đầu kéo dài hết gáy có những vân đen chạy dọc một cách rõ nét, to,lông đầu sáng trông loang lổ nổi bật giữ những vân đen thì gọi là Hoa đầu, thường to con, đẹp mã, hót nhiều, khi thuộc rồi thấy ngưòi hay búng cánh,chọi phập phù.

– VẢNG TÍNH (lộn cổ): lúc đậu trên cầu hoặc bám tren nan ***g thỉnh thoảng cứ ngửa cổ ra dằng sau thì gọi là vảng tính.

– CHỈ MỲ: Giữa phần lông my trắng bao quanh mắt (thường là my trên) có một đốm lông đen nhỏ như hạt vừng thì gọi là chỉ mỳ, có con bị một bên có con bị cả hai bên, theo kinh nghiệm thì giống này có lúc chọi rất hăng nhưng lại có khi không xuống cầu. Hót nhiều,thường rơi vào chim ngũ trường.

-HÓT SỢ (Khiếp khẩu):

Có thể nhiều người chưa nghe thấy và chưa biết Hót sợ là gì,trước khi vào giải nghĩa tôi xin nói rộng ra một chút-Người TQ phân tiếng hót HM ra làm 4 loại,đó là:

Khiếp khẩu (hót sợ)

Tiều bàn (hót Chuyện nhỏ )

Trung bàn (hót chuyện to ).

Đại khiếu (hót sổng)

Mấy thứ Hót chuyện và hót sổng mọi người biết cả rồi,bây giờ tôi xin giải nghỉa hót sợ.Có 2 kiểu hót sợ:

Khi mới bẫy được,bị bắt,bị nhốt trong hộp nhỏ, bị các âm thanh và hình ảnh của con người đe dọa liên tục, hoặc bị những con HM thuộc lấn át ,nhiều con họa my mộc không dám hót hoặc chỉ hót rất nhỏ, ngắn, nghe yếu ớt, vụng trộm kiểu hót này gọi là hót sợ.

Khi bị hết nước, hết thức ăn trong tình trạng nguy kịch (hết nước khoảng 6 giờ,hết thức ăn khoảng 10 giờ) Chim sẽ hót cách quãng liên tục,5-10 phút lại hót lặp lại 1 giai điệu trước, tiếng hót yếu, chậm, nghe ai oán, buồn, cũng được gọi là hót sợ (trong trường hợp hết thức ăn bạn chỉ việc cho thức ăn vào là xong,nhưng nếu là hết nước thì bạn phải hết sức cẩn trọng – nếu chim vẫn khỏe vẫn nhẩy nhót bình thường thì củng chỉ đổ nước vào là được ,nhưng nếu chim đã suy kiệt, không nhẩy lên bám cầu được,hoặc vẫn bám trên cầu nhưng không còn phản xạ nhanh nhạy thì bạn chỉ được phếp đổ vài giọt nước vào cóng,đợi chim uống hết mấy giọt này đợi 10 phút sau lại đổ vào vài giọt,sau 3 lần cho uống như vậy bạn dừng lại không đổ tiếp nữa,trong thời gian này bạn phải để chim ở cạnh bếp lửa hoặc dùng sì đầu sì chung quanh để giữ ấm cho chim ,nhớ không sì trực tiếp vào thân chúng tôi 30 phút nếu thấy chim tươi tỉnh lúc này bạn lại cho uống một chút nước,nhưng vẫn hạn chế không cho uống no,khi nào thấy chim nhảy nhót bình thường lúc đó mới đổ đầy nước vào cóng) nếu trong trường hợp chim yếu quá không tự uống được thì bạn lấy thìa mà bón từng giọt nhưng không được cầm chim trong tay chim sẽ đạp giãy và chết ngay và nhớ cũng phải bón cách quãng và sưởi ấm như trên.

-NGŨ TRƯỜNG, NGŨ ĐOẢN (5 dài,5 ngắn): Đây là cụm từ người TQ dùng để phân biệt giữa 2 loại thể hình của chin HM,người TQ căn cứ vào các bộ phận sâu để phân loại:

MY (Lông my)

BỘT TỬ(Cổ)

THÂN ĐIỀU(Thân)

THOÁI(Đùi và cẳng).

Nếu 5 thứ trên mà đều dài thì gọi là Ngũ trường,nếu tất cả ngắn thì gọi là Ngũ Đoản.

Nếu không thuộc bộ nào thì không cân đối.

Ảnh :

Một Số Thuật Ngữ Bổ Ích Trong Thú Chơi Họa Mi

Lịch sử chơi chim đã có từ rất lâu, đặc biệt là Hoạ Mi. Trong quá trình chơi, dân chơi HM đã tạo ra rất nhiều thuật ngữ, tiếng lóng để chỉ vật dụng nuôi, để nhận định đánh giá trạng thái, chất lượng, khả năng,hình thái… Từng chi tiết từng bộ phận của con Họa Mi.

– Lồng phóng: Dùng để tập thể lực cho HM chọi nên có kích thước lớn, thường được làm bằng tre, trúc, có đường kính từ 50cm đế n60cm cao từ 1,2m đến 1,5 m.

Đây là lồng nuôi HM đực để chọi nhau (đá nhau) được làm bằng tre ,trúc, cũng có nhiều kích cỡ, nhưng chủ yếu có đường kính đáy lồng khoảng 36cm, chiều cao tính cả chân lồng khoảng 60cm (chân thường cao 15-16cm). Lồng chiến là lồng được chú trọng nhất, được thửa rất công phu, đặc biệt là sàn lồng và cửa lồng. Trên sàn có bàn chiến.

Là một bộ phận cùa sàn lồng, tiếp giáp với cửa lồng, có hình bán nguyệt, chỗ rộng nhất khoảng 10-11cm, trên mặt bàn chiến người ta đóng những thanh tre song song để tạo chỗ cho chim tì chân, đuôi để lấy thế chọi nhau, cũng có loại bàn chiến rời, khi chọi mới lắp vào, thường được làm bằng gỗ thông trắng (cùa TQ), khi lắp vào loại bàn chiến này thường có độ dốc khoảng 5 độ, sau cao trước thấp, thay cho những thanh đóng người ta khoét thủng thành những rãnh.

Tôi chỉ nói qua về cầu gạo thôi, Thực ra nó không phải là cành gạo như ta tưởng, tiếng Tày Nùng gọi cây này là: Kiều nộc có nghỉa là cầu chim. thuộc họ thân gỗ, chiều cao trung bình khoảng 3m, thường thấy mọc tại các khu vực đất cằn ven đồi (đất càng cằn cỗi càng có hy vọng tìm được cầu đẹp) có tán lá rất giống cây Hoa hoè, rất dễ nhận từ xa. Các cụ cho rằng chim đậu cầu này có tác dụng luyện da chân chim dày dạn, ít bệnh tật…. …

Ngoài hai loại lồng trên cón có lồng mái, lồng mồi.

Trước đây các Cụ còn có lồng LƯU ĐIỂU to hơn lồng mái một chút (lồng mái có 48 nan, lồng lưu điểu 52 nan, lồng chiến 56 nan, lồng phóng từ 64 nan trở lên) đường kính đáy lồng khoàng 37cm cao 40cm, dùng để xách chim đi chơi (đi dượt) bây giờ thấy ít người dùng.

Lại tiếp tục tự biên tự diễn đây.

Đây là từ chỉ những chiếc lồng do những người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Miền núi phía bắc chế tác,chủ yếu là lồng MY, ngoài ra cũng có một số ít lồng gáy và đa đa. Do chỉ được làm khi có nhu cầu sử dụng của bản thân, nên số lượng rất ít. Quy trình chế tác, vật liệu, kích cỡ, hình dáng…rất đa dạng. Đồ nghề nhiều khi rất đơn giản, chỉ có con dao và cái dùi sắt nung lửa để dùi lỗ vanh, vì vậy phần lớn trông cục mịch, thô , nhưng rất thật, rất hữu dụng và đầy ắp tính văn hoá bán địa. Hiện nay cũng đã xuất hiện một vài nơi (Vân an, Chiến thắng…ở LS) bà con dân tộc ít người cũng đã bắt đầu sản xuất lồng trong thời gian nông nhàn, đem ra chợ phiên tại TP LS để bán, những chiếc lồng này đã bị thương phẩm hoá nên tính văn hoá và chất lượng đã giảm nhiều.

Là vật dụng dùng để dựng thức ăn và nước cho chim, trước đây thường được làm bằng sứ và được trang trí hết sức cầu kỳ, các họa tiết nhỏ li ti đều được vẽ bằng tay, hình dáng cũng rất đa dạng (hiện nay cũng có 1-2 cửa hàng ở HN bán bán loại này). Bây giờ người ta “cải lùi” làm nó bằng nhựa, thủy tinh tuy xấu nhưng rất rẻ.

– Trung sa (khung chọi): Khi chọi chim người ta áp hai cửa lồng vào nhau, để chim chọi nhau qua những song cửa , nhưng vì cửa lồng của mỗi người khác nhau, song cửa cũng to nhỏ không đều nên thường gây ra những vấn đề không thống nhất vì vậy người ta nghĩ ra cái TRUNG SA. (TRUNG=ở giữa, SA=là cái mành hay cái chấn song cửa sổ). Trung sa thường được làm bằng gỗ, có chiều rộng mép trong khoảng 8,5cm, chiều cao khoảng 40cm, có hai thanh chấn song tre (có đk khoảng 0,5cm) ngăn trung sa ra làm 3 khoảng cách bằng nhau (khoảng 2,6cm) chim có thể thò đầu sang để chọi nhau, nhưng không thể chui hẳn sang (thông lồng), chọi qua trung sa xem hơi tức mắt (vì vướng nhiều thứ) nhưng giữ được chim chơi lâu dài.

Chọi hội thường được một Tổ chức nào đó đứng ra bao thầu (thường là Hội SVC của nơi sở tại diễn ra chọi hội). Quy mô cũng rất đa dạng, có thể chỉ diễn ra trong 1 xã, 1 huyện, nhưng cũng có thể cả tỉnh và liên tỉnh, số lượng có thể lên đến 70-80 đôi chim. Người tham gia chỉ việc mang chim đến địa điểm quy định, đăng ký và nộp Tiền đầu lồng (khoảng 100 nghìn-200 nghìn/con). Quy tắc chọi hội là CHỌI VÒNG TRÒN, LOẠI TRỰC TIẾP, con chọi thắng cứ tiếp tục chọi cho tới lúc thua hoặc chủ chim cảm thấy chim của mình đã đủ điểm nhận giải hoặc đơn thuần là để giữ chim thì có thể xin thôi chọi.

Cách tính điểm là bằng phút, mỗi phút người ta quy định là 100 điểm để tiện cho việc cộng dồn vì nhiều con chọi chưa đến 1 phút đã thua, con thắng sẽ được cộng dồn số lẻ này. Cơ cấu giải gồm :1,2,3 và Điện quân, kèm theo cờ và chút tiền thưởng gọi là có (thường kinh phí thưởng bằng kinh phí giải Ba).

Ý nghĩa của chọi hội vẫn như xưa (để lựa chọn chim tài, chim hay). Nhưng bên trong còn có những giao kèo CHỌI TAY ĐÔI của những cao thủ lồng ghép vào, nên không khí chọi hội bây giờ cũng căng không kém gì, và sau khi mãn cuộc thường là những cuộc ngã giá – một cơ hội tốt cho những người chuyên gột chim chọi. : Đây là hình thức chọi giữa 2 con chim của hai chủ chim với nhau (không phụ thuộc Ban bệ nào cả) nó được hình thành trên cơ sở lời mời đầy tính thách thức. Có thể nói CHỌI TAY ĐÔI là SỨC SỐNG TINH THẦN, là ĐỘNG CƠ CHÍNH để nghề chơi chim HM liên tục phát triển rộng rãi và sâu.

Mỗi một cuộc chọi tay đôi diễn ra là một cuộc đấu trí, một cuộc trải nghiệm tay nghề và danh dự không những của một con người mà còn là cả một môn phái, một địa danh nào đó nên thường được cân nhắc tính toán rất kĩ, chim phải bảo đảm ở giai đoạn căng lửa nhất vì vậy các trận tay đôi thường rất ác chiến, xem rất đã mắt. Không khí trận mạc lại được hâm nóng thêm bởi những khoản cá cược đi kèm, có trận lên đến vài chục tr…bởi thế nên đã dính vào nghề này rồi là khó cai lắm.

Để đảm bảo công bằng địa điểm chọi thường được chọn ở nơi trung gian cho cả hai phía để không ai lợi sân nhà cả, nên thường phải mang chim đi xa có khi hàng 100km, vất vả khó khăn là thế nhưng nó luôn là ước mơ của bất cứ ai “không may” nghiện nó. Cũng có những cuộc chọi tay đôi “ăn liền”, như gặp nhau tại chọi hội, gặp nhau khi đi dợt.. nhưng thường chóng vánh và thiệt hại chiến tranh không đáng kể.

Đây là miếng đánh thường thấy ở những con HM có tướng “Ngũ đoản”, đang đậu trên cầu, trọng tài chỉ vừa mở trung sa, thoáng thấy đối phương là lao vút như mũi tên thẳng vào cửa chiến nghe phập một cái, đòn này nguy hiểm cho cả hai vì nếu đánh trúng đối phương thì sẽ bị cú phủ đầu rất mạnh, dễ giật mình mà choáng còn nếu đối phương tránh được thì con lao sẽ đập hai bên mặt rất mạnh vào chấn song trung sa, rất dễ toét mặt (Vì vậy nếu bạn có con ngũ đoản thì mỗi lần áp thử bạn nhớ phải cho chúng thấy nhau từ xa). Đây là tiếng kêu đặc trưng của HM (cả đực và cái) ở thời kỳ thiếu lửa, nếu để gần những con căng lửa thì tiếng kêu này càng nhiều và liên tục hơn (tiếng kêu tựa như: chóc chóc,chóc chóc ). HM đá mà có tiếng kêu này thì rất ít khi chịu đá (cũng có trường hợp ngoại lệ).

HM đá cũng có hiện tượng kỵ dơ/rơ nhau, có con đánh thắng nhiều con khác nhưng lại không dám đánh một con nào đấy, hễ cứ nhìn thấy là lông đầu dựng lên, cổ rụt lại, kêu chóc chóc liên tục, hiện tượng này gọi là xù đầu, hiện tượng xù đầu còn thường thấy ở chim mộc, chim non khi áp gần lồng chim thuộc, hoặc chim con nuôi lên khi chủ nhân đến gần chúng cũng dựng lông đàu lên chờ chù vuốt ve. : Khi chim đã bắt đầu có lửa hoặc chim căng lửa, chủ chim bặm môi rồi bật ra những âm thanh tựa như gà mẹ gọi gà con vậy, lập tức chim HM sẽ nhún lên nhún xuống miệng chim cũng phát ra những âm thanh tương tự sau đó là kềm theo vài tiếng hót nghe rất thách thức, hiện tượng này được gọi là GỌI LÊN.

-CHIM MỘC(BỖI): Đây là chim mới bẫy được, còn dốt trong hộc nhỏ, đã biết ăn cám, gạo, nhưng còn rất nhát, khi mua về thả ra lồng to nếu không có phương pháp chúng sẽ sợ nhảy thúc vỡ cả mặt mũi và không giám hót. (chim rất hay mất móng trong thời kỳ này) tuy vậy nó vẫn được người chơi mua nhiều nhất vì một phần do giá rẻ một phần người nuôi cũng muốn thông qua việc nuôi dạy mà thu được kinh nghiêm, giết được thời gian nhàn rỗi, con chim sẽ có những phản xạ do mình áp đặt và cái cảm giác “CON CHIM CỦA TÔI” mới rõ ràng,tạo cho người chơi hưng phấn..– CHIM GIÀ RỪNG (TQ gọi là LÃO MAO ĐIỂU hoặc QUÁ CHI TỬ): Đây là chim HM đã sống ít nhất 1,5 năm trong tự nhiên, đã 2 lần thay lông trở lên, bản năng hoang dã đã rõ ràng, đã có cứ địa, đã sinh con đẻ cái. Nhát người khó thuần nhưng ít bệnh tật, hót hay và hay chọi, những người chơi chim có kinh nghiệm luôn săn tìm mua loại này.

Giữa phần lông my trắng bao quanh mắt (thường là my trên) có một đốm lông đen nhỏ như hạt vừng thì gọi là chỉ mỳ, có con bị một bên có con bị cả hai bên, theo kinh nghiệm thì giống này có lúc chọi rất hăng nhưng lại có khi không xuống cầu. Hót nhiều,thường rơi vào chim ngũ trường.-HÓT SỢ (Khiếp khẩu): Có thể nhiều người chưa nghe thấy và chưa biết Hót sợ là gì,trước khi vào giải nghĩa tôi xin nói rộng ra một chút-Người TQ phân tiếng hót HM ra làm 4 loại,đó là:

Khiếp khẩu (hót sợ) Tiều bàn (hót Chuyện nhỏ ) Trung bàn (hót chuyện to ). Đại khiếu (hót sổng)

Mấy thứ Hót chuyện và hót sổng mọi người biết cả rồi,bây giờ tôi xin giải nghỉa hót sợ.Có 2 kiểu hót sợ:

Khi mới bẫy được,bị bắt,bị nhốt trong hộp nhỏ, bị các âm thanh và hình ảnh của con người đe dọa liên tục, hoặc bị những con HM thuộc lấn át ,nhiều con họa my mộc không dám hót hoặc chỉ hót rất nhỏ, ngắn, nghe yếu ớt, vụng trộm kiểu hót này gọi là hót sợ. Khi bị hết nước, hết thức ăn trong tình trạng nguy kịch (hết nước khoảng 6 giờ,hết thức ăn khoảng 10 giờ) Chim sẽ hót cách quãng liên tục,5-10 phút lại hót lặp lại 1 giai điệu trước, tiếng hót yếu, chậm, nghe ai oán, buồn, cũng được gọi là hót sợ (trong trường hợp hết thức ăn bạn chỉ việc cho thức ăn vào là xong,nhưng nếu là hết nước thì bạn phải hết sức cẩn trọng – nếu chim vẫn khỏe vẫn nhẩy nhót bình thường thì củng chỉ đổ nước vào là được ,nhưng nếu chim đã suy kiệt, không nhẩy lên bám cầu được,hoặc vẫn bám trên cầu nhưng không còn phản xạ nhanh nhạy thì bạn chỉ được phếp đổ vài giọt nước vào cóng,đợi chim uống hết mấy giọt này đợi 10 phút sau lại đổ vào vài giọt,sau 3 lần cho uống như vậy bạn dừng lại không đổ tiếp nữa,trong thời gian này bạn phải để chim ở cạnh bếp lửa hoặc dùng sì đầu sì chung quanh để giữ ấm cho chim ,nhớ không sì trực tiếp vào thân chúng tôi 30 phút nếu thấy chim tươi tỉnh lúc này bạn lại cho uống một chút nước,nhưng vẫn hạn chế không cho uống no,khi nào thấy chim nhảy nhót bình thường lúc đó mới đổ đầy nước vào cóng) nếu trong trường hợp chim yếu quá không tự uống được thì bạn lấy thìa mà bón từng giọt nhưng không được cầm chim trong tay chim sẽ đạp giãy và chết ngay và nhớ cũng phải bón cách quãng và sưởi ấm như trên.

Nếu 5 thứ trên mà đều dài thì gọi là Ngũ trường,nếu tất cả ngắn thì gọi là Ngũ đoản.(Thực ra trong thục tế còn một loai không dài cũng chẳng ngắn thì chẳng thấy sách nào gọi nó là gì cả ?).

NHỮNG PHẢN HỒI CỦA QUÝ AE NGHỆ NHÂN TRÊN TOÀN QUỐC SỬ DỤNG CÁM TUẤN MI

HÃNG CÁM TUẤN MI THAM GIA HỘI THI VÀ ĐẠT GIẢI NHẤT – ĐIỆN QUÂN

Nghệ nhân TUẤN ( MÓNG CÁI) dùng CÁM TUẤN MI đạt giải BA giải MI CHỌI – MÓNG CÁI QUẢNG NINH

NIỀM VUI ĐẾN VỚI NGHỆ NHÂN TÀI – MỘC CHÂU SƠN LA KHI SỬ DỤNG SẢN PHẨM CÁM TUẤN MI

Nghệ nhân Ngọc Tú ( Hải Phòng) chăn CÁM TUẤN MI và đạt Top 10 Hội thi tiếng hót chim Họa Mi Tp Hải Dương ngày 11/12/2024

Và đây là 1 số hình ảnh của niềm đam mê ” NHỮNG HẠT CÁM VƠI ĐI NIỀM ĐAM MÊ Ở LẠI” Tuấn Mi đồng hành cùng niềm đam mê Họa Mi & Chinh phục đỉnh cao.

HÃY DÙNG ĐÚNG SỐ CÁM CHO ĐÚNG VỚI GIAI ĐOẠN CỦA CHIM HỌA MI ĐỂ CẢM NHẬN SỰ KHÁC BIỆT RÕ RỆT