Xu Hướng 3/2024 # Một Số Nét Về Loài Chim Yến # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Nét Về Loài Chim Yến được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Về một số giống loài chim yến Nội dung trong bài viết

Về một số giống loài chim yến

Đời sống tự nhiên của chim yến hàng

Thành phần hoá học cơ bản của tổ yến

Thuộc họ: Apodidae

Giống: Collocalia (tiếngAnh-Swifts)

Loài:

Collocalia fuciphagus (yến tổ trắng, VN-yến hàng)

Collocalia gigas (yến lớn)

Collocalia maxima (yến tổ đen- yến xiêm)

Collocalia brevirostris (yến núi)

Collocalia vanicorensis (yến tổ rêu)

Collocalia esculenta (yến bụng trắng, theo tiếng Indonesia gọi là yến sapi).

Chim yến ( Swiftlet– t iếng Anh) và chim én thường bị lẫn lộn vì chúng đều là những loài chim bay lượn, thích bay lượn trên bầu trời để thăm dò thám thính ở những khoảng cách khá xa, và đều ăn các côn trùng bay.

Về mặt phân loại, nhóm chim yến thuộc họ Apocdidae (theo tiếng la tinh nghĩa là “không chân”), có đặc trưng là chân yếu ớt không thể đậu được nhưng có khả năng bay cao và có thể bay lượn liên tục trong không trung suốt cả ngày. Tổ làm từ nước bọt hoặc thêm các thứ khác như lông, cỏ trộn nước bọt. Cánh uốn cong và đuôi lõm mức vừa phải.

Khác với nhóm trên, loài chim én (chim nhạn – tiếng Anh: Swallows, Martins), cũng thích bay lượn trên trời cao, thuộc hirudinidae thì có chân khoẻ mạnh, có thề đậu xuống trên cây và dây điện, chân có ba ngón phía trước, một ngón phía sau; cánh dài, nhọn, gần như thẳng; lông nói chung có màu xanh dương ngả sang màu đen; tổ làm từ đất sét hoặc cỏ cây.

Tại Indonesia nguời ta đã tìm ra bí quyết nuôi chim yến trong nhà bằng cách nương tựa vào một loài chim mà người Indonesia (Indo.) gọi là chim sriti và nhiều ý kiến cho rằng nó chính là chim “én ” (nên nhiều người ở đây vẫn dùng tiếng Anh là Swallow). Con chim sriti này làm tổ dưới mái nhà, và tổ của nó có thể dùng để ấp nở trứng yến. Trên thực tế nó ở trong cùng họ với chim yến (họ Apodidae), có tên la tinh là Coilocalia linchi (theo Tim Penulis PS). Bởi vì chim con của nó hầu như giống chim yến sapi (C. esculenta). Nhưng lông phân bố trên lưng của cơ thể C. linchi màu đen phớt xanh lục và không có các lông nhỏ ở trên ngón chân cái. Trong khi lông trên cơ thể của chim C. esculenta màu đen phớt xanh dương, và trên ngón chân cái có lông nhỏ.

Ở bắc Kalimantan và Benunnungan Bukit Barisan, loài chim C. linchi sống cùng chỗ với loài C. esculenta. Ở đảo Jawa và Bali, loài C. linchi kiếm mồi cả ở các vùng thấp đến đỉnh núi có độ cao 3000m so với mặt biển. Loài này hay bay lượn gần nhà và thích làm tổ ở trong nhà, dưới mái nhà, nhất là ở vùng Sukabumi. Tổ của nó hình cái bát không đều đặn, tổ được kết bện chặt bằng cỏ nhỏ và nước bọt, kích thước tổ 65,5 x 45 mm, có thể sử dụng để ấp trứng chim yến hàng.

Tổ chim yến núi, yến lớn, yến tổ rêu, yến sapi C. esculenta và cả tổ yến sriti C. linchi đều không thể ăn được, riêng tổ của loài yến xiêm C. maxima thì có thể ăn được nhưng phải nhặt hết lông. Mội số người Indo. còn dùng các tổ yến phẩm chất xấu có trộn nhiều lông để làm thuốc cho ngựa.

Ở VN loài chim này có trọng lượng cơ thể khoảng 12-20gr, làm tổ lần đầu kéo dài 4 tháng, bắt đầu khoảng tháng 12 -tháng 1, tuỳ địa phương và điều kiện khí hậu từng năm. Chim bắt đầu đẻ trứng vào giữa và cuối tháng 3 đến giữa tháng 5 (tùy vùng), có 70% chim tập trung đẻ vào đầu và giữa tháng 4. Nếu bị khai thác lấy tổ thì tiếp tục làm tổ đến khoảng tháng 5-6, còn nếu tổ của chúng không bị lấy đi thì chúng sẽ đẻ lại lần 2 sau khi chim non rời tổ được 5 – 40 ngày, có 30% số chim đẻ lại trong vòng 7-10 ngày. Thòi gian ấp trứng là 23 – 30 ngày, trung bình 25 ± 2. Chim non rời tổ sau khi nở 40 – 45 ngày, trọng lượng cơ thể là 14,5gr. Thức ăn của chim yến hàng chủ yếu là côn trùng: kiến, mối, ruồi muỗi, bọ rầy, các loài cánh cứng và nhộn. Chim trưởng thành ăn chủ yếu là kiến cánh.

Chim non ăn bọ rầy (nâu, xanh) – chiếm 50% và ruồi muỗi chiếm 20%. Trong thức ăn của chim bố mẹ thì bọn cánh màng ( Hymenoptera) chiếm tỷ lệ cao hơn cả. Vào mùa mưa tỷ lệ mối trong ruột là 100% (theo NQP).

Loài này sinh sống nhiều từ vĩ độ 10 o S đến 20°N và kinh độ 95° đến 115° đông, chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Á, Philippines, Việt Nam, Thailand, Malaysia, Indonesia (Kalimantan, Sumatera, Jawa, Bali…), Campodia.

Ở Việt Nam người ta thấy chim yến hàng làm tổ ở các đảo trong vịnh Hạ Long, Quảng Bình, Đà Nẵng (Cù Lao Chàm), Quảng Ngãi (Sa Huỳnh), Bình Định (bán đảo Phước Mai), Khánh Hòa (10 đảo lớn nhỏ), Phan Rang (Đá Vách), Côn Đảo (10 đảo), Kiên Giang (khoảng 4-5 đảo) (theo NQP).

b/ Loài yến lớn C. gigas là loài chim có cơ thể lớn so với các loài yến khác. Kích thước trung bình của cơ thể khoảng 16cm. Lông chim màu đen, phía dưới màu nâu tối. Lông đuôi chẽ đôi rõ.

Chim thường chỉ đẻ 1 quả trứng, trứng trắng và hình dạng gần như oval. Vào tháng 11-12 yến lớn thường bước vào mùa làm tổ. Phân bố nhiều ở Malaysìa, Sumatera, Kalimanlan và Jawa, thường thấy ở các vùng núi cao rùng rậm.

c/ Loài yến xiêm C. maxima cũng hay làm tổ chung với loài yến hàng, chiều dài trung bình cơ thể là 12,5cm (số liệu Indo.). Lông lưng màu nâu phớt đen, lông ngực màu xám đen và lông đuôi màu nâu phớt cam. Đuôi cũng hơi chẽ đôi. Loài yến này chân có lòng phẳng, mắt nâu đậm, mỏ đen, chân đen. Tổ chim màu đen vì được làm từ lòng đen và nưức bọt của chim kết lại. Tổ yến đen có tới 90% là nước bọt và 10% là lông. Sau khi lựa hết lông ra, tổ chim có thể ăn được. Chất lượng tổ tất nhiên là thấp hơn so với tổ yến hàng. Chim cũng ăn các côn trùng nhỏ và chủ yếu là các côn trùng bay. Chim thích làm tổ trong các khe đá vôi.

Người ta thấy mùa vụ ghép đôi cũng giống chim yến hàng. Trứng màu trắng, thường chỉ đẻ 1 quả. Giống như chim yến hàng, loài yến xiêm cũng dễ nuôi hơn những loài yến khác.

Loài này thường thấy ven bờ biển, làm tổ trong các khe núi đá vôi ở Indonesia, Himalaya, Malaysia, Thailand, Philippines.

Việt Nam cũng có loài yến xiêm, hay cùng làm tổ với yến hàng ở một số đảo vùng Khánh Hoà. Nhưng yến xiêm ở đây có số lượng quá ít, khoảng 90 đôi (186 con – theo NQP), trọng lượng cơ thể từ 12-17 gr.

d/ Yến núi C. brevirostris, lông chim màu đen, đuôi màu xám đen. Lông đuôi chẽ đôi sâu, chân hơi có chút lông hoặc không. Cơ thể hơi lớn, chiều dài trung bình đạt 14cm.

Loài này bay nhanh, thường ghép thành nhóm, hướng đến các vùng cao, đỉnh núi. Ăn các côn trùng nhỏ và cả các côn trùng bay. Tổ của nó làm trong các khe đá, nơi có dấu vết núi lửa và ở các đỉnh núi. Bởi vì tổ của nó làm từ cỏ, chỉ trộn rất ít hoặc không có nước bọt nên loại tổ yến này không thể ãn đươc. Chim có mùa vụ ghép đôi, thường đẻ 2 quả trứng.

Loài chim này thường gặp ở Himalaya, Trung Quốc, Đông Nam Á, Philippines, Andaman, Sumatera, Jawa.

e/ Yến tổ rêu C. vanicorensis, lông chim màu nâu ngã sang màu đen, lòng đuôi tối hơn. Đuôi cũng chỉ hơi lõm vào. Giọng hót ríu rít và cao. Kích thước cơ thể nhỏ, chiều dài cơ thể trung bình khoảng 12cm.

Chim bay mạnh và xa, đôi lúc cũng bay lượn xoay tròn và là thấp xuống gần mặt đất để tìm các côn trùng nhỏ. Tổ đẹp với bề mặt mềm. Rêu tảo được dùng để phủ và bện kết thêm cho đến khi tổ làm xong, nên được gọi là “yến tổ rêu”

Yến tổ rêu thấy nhiều ở Sumarera, Kalimantan, Javva và các vùng tây Thái Bình Dương.

g/ Yến bụng trắng C. esculenta (tiếng Anh là White Billied Swiftlet).

Lông lưng đen phớt xanh dương, lông ngực phớt màu cam tối (màu vàng bí ngô), phần lông bụng trắng hơn, đuôi có chẽ đôi nhỏ. Mắt nâu tối, mỏ đen, chân đen. Giọng hót ríu rít và cao. Đây là loại chim yến nhỏ nhất trong giống yến, có chiều dài cơ thể trung bình khoảng 10cm.

Chim sống cả trên vùng cao nguyên, thích đồng cỏ, rừng cây rộng và thoáng. Loài chim này hay bay thành nhóm nhưng không xếp thứ tự. Chim không bay xa, thường bay thấp hoặc lượn vòng tròn gần trên mặt đất, hoặc mặt nước để tắm và uống nước. Khi tìm kiếm thức ăn thường kêu hót ríu rít dưới các cây lớn có nhiều côn trùng. Hình dạng tổ không đều đặn, được làm từ rêu, cỏ và nước bọt. Tổ làm ở các khe đá, góc khe núi. Chỉ đẻ 2 quả trứng, màu trắng và hầu như hình oval. Chim làm tổ không phụ thuộc vào mùa ghép đôi mà có thể làm tổ kéo dài trong năm. Trong một số tài liệu của Indonesia đây chính là loài để dụ chim yến hàng (nhưng theo phân tích ở trang 2 loài dùng để dụ chim yến hàng là loài C. linchi Tim Penulis PS).

Loài này phân bò nhiều ở Châu Á, Himalaya, Trung Quốc, Papua New Guinea, Đông Nam Á, Australia, Jawa, Rali

Đời sống tự nhiên của chim yến hàng

Loài chim này hay sống quần đàn, thích làm tổ từng cặp riêng rẽ, thích sống ở chỗ gần nước (sông, hồ, biển), có đồng ruộng, rừng cây thấp, và ít đến các khu rừng rậm. Chim yến là loài chim bay lượn cao, nhưng ít khi chúng bay xa đến độ cao 1500m để kiếm mồi (Indo.).

Theo những điều tra của Khánh Hoà, chim yến hàng có thể lên đến Lâm Đồng, Phan Rang để kiếm ăn.

Chim rất thích trú trong các hang động với diện tích rộng. Độ ẩm trong chỗ ở của chúng giao động từ 85 – 95% (đấy cũng là lý do tại sao trong một số điều tra của Khánh Hòa, sản lượng tổ yến của các hang có đáy nước cao hơn hang đáy đá, và có thể gợi ý về việc thử tạo ra một độ ẩm nhất định cho các hang không có đáy nước). Nhiệt độ thích hợp nhất cho yến làm tổ là 25 – 29 o C. Yến thích sống ở chỗ tối, nơi yên tĩnh, cảm giác an toàn, không bẩn thỉu và chứa bầu không khí trong sạch (Indo.).

Chim yến hàng làm tổ trong thời gian lúc trở về nhà đến nửa đêm. Nó không làm một mình mà cả con đực và con cái cùng làm. Công việc xây dựng tổ tiến hành mỗi ngày, kéo dài trong khoảng 40-80 ngày. Nếu thức ăn (côn trùng) nhiều hoặc vào mùa đẻ trứng thì thời gian này chỉ 40 ngày, còn nếu chưa vào mùa đẻ trứng và bị ảnh hưởng của nhiều tác nhân thì thời gian làm tổ có thể kéo dài gấp đôi.

Hình bên cho thấy chu kỳ sống của chim yến: Từ khi mới nở đến khi tập bay và rời tổ khoảng 45 ngày; từ khi bay được đến khi ghép đôi khoảng 30 ngày. Chim bắt đầu làm tổ cho đến khi làm tổ xong là khoảng 40 ngày nếu vào mùa mưa, còn nếu vào mùa khô ráo thì thời gian này mất 80 ngày. Thời gian từ khi làm tổ xong đến khi đẻ trứng là 8 ngày. Bắt cặp giao phối khoảng 5 – 8 ngày. Trứng bắt đầu vào ấp khoảng 7 ngày. Trứng được ấp và nở ra thành chim con trong khoảng 20 – 21 ngày, rồi lại bắt đầu 1 chu kỳ mới.

Chú thích : 1- Chim con mới nở

II – Chim non tập bay rời tổ

III – Chim ở thời kỳ chuẩn bị ghép đôi

IV – Chim bước vào làm tổ

Va – Tổ đã làm xong (vào mùa mưa)

Vb – Tổ đã làm xong (vào mùa khô ráo)

VI- Đẻ trứng

VII- Trứng bắt đầu ấp

Ia – Trứng ấp đã nở ra con

(IIa – Chim con bắt đầu bay rời tổ cho tới khi tổ trống)

Thành phần hoá học cơ bản của tổ yến

Theo phân tích của Departemen Perdagangan R. I, 1979 (Indo.) trong 100g tổ yến chứa

Calori : 281 Calori

Protein : 37,5 gram

Lipit: 0,3 gr

Carbonhydiat: 32,1 gr

Canxi: 485 mg

Phospho: 18 mg

Sắt: 3mg

Nước: 24,8 gr

Theo các phân tích của Nguyễn Quang Phách (1993), hàm lượng protein và lipit có khác nhau theo loại tổ và kỳ khai thác (tính theo % trọng lượng khô). Hàm lượng protein trong kỳ khai thác lần đầu là 47,16%, lần hai là 36,9%; lipit lần đầu là 0%, lần 2 – 0,56%.

Qua các số liệu trên cho thấy, hàm lượng canxi và photpho trong tổ yến rất cao, nguyên tố sắt cũng khá cao. So sánh với tài liệu đã công bố của Indonesia, thì tổ yến của Khánh Hoà có chất lượng rất tốt, hàm lượng protein cao, hàm lượng lipit rất thấp, chỉ từ 0 – 0,56%, lượng nước thấp chỉ khoảng 16 % (so với Indo. Là 24,8%).

Một Số Kinh Nghiệm Về Yến Hót

Chim cảnh hay bất kỳ vật nuôi nào cũng cần sự quan tâm chăm sóc thì mới đạt được thành quả . Yến hót cũng ko nằm ngoại lệ , bạn hiểu nó , quan tâm chăm sóc nó đúng cách thì bạn sẽ sớm có con chim ưng ý : Chim yến thể trạng yếu hơn so với các loại chim rừng khác , do thời gian được con người thuần hóa khá lâu và quen với môi trường sinh sản trong nhà thế nên mất dần bản năng sinh tồn , bị xổng ra thì tỷ lệ sống là rất thấp . Chính vì thế ta cần chăm sóc cẩn thận hơn so với các loại chim rừng khác .

Để nuôi tốt và sinh sản thành công thì điều đầu tiên ta phải cách ly được chúng với các loài thiên địch của nó . Đó là Kiến , Muỗi , Mèo , Chuột , Thạch thùng . Với mèo và chuột thì ta ko phải bàn nhiều nữa vì ai đã từng nuôi bất kỳ loài chim gì thì ko bao giờ hết cảnh giác với 2 loài này . Do thức ăn của Yến có trứng ( ở cám trứng , và trứng tươi bổ xung hàng ngày ) thế nên chúng là nơi thu hút rất nhiều kiến tới kiếm ăn dẫn đến chim bị cắn oan è tử vong . Muỗi đốt thì Yến ko chết ngay , khi bị đốt vào chân thì dễ dẫn đến hỏng móng , chân sưng to , chân chim co lên , đau đớn , đực ko hót mái ko đẻ è lâu ngày ko được chữa trị chim suy ( Yến Suy thì chưa có cao nhân nào cao tay trị được ) Thạch thùng : loại này là a e hay chủ quan ko để ý đến , vì với chim rừng thì bọn này mà bén mảng đến thì bị xơi tái ngay , nhưng Yến hiền hòa , nên đây là cơ hội cho thạch thùng nằm đáy lồng , đứng cạnh lồng ăn các con bọ , chim yến sơ ý mà lại gần bị thạch thùng đớp thì dẫn đến hiện tượng chim đau , bỏ ăn , xù lông , yếu , nếu bị cắn vào chân thì chỉ có phẫu thuật thì con chim mới trở lại bình thường đc .

Giới Thiệu Một Số Loài Chim Ở Bắc Ái

Qua điều tra, ghi nhận khu vực rừng khộp vực Bắc Ái, Ninh Sơn có 58 loài chim thuộc 8 Bộ, 23 Họ và 46 Chi. Đặc biệt, ở đây không có loài chim đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm theo các hệ thống đánh giá của IUCN, sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Nhóm khảo sát động vật – thực vật của trung tâm GreenViet đã tham gia đợt điều tra đa dạng sinh học tại khu vực rừng khộp vực Bắc Ái, Ninh Sơn, Ninh Thuận. Đây là khu vực rừng nằm tiếp nối giữa 2 vườn quốc gia lớn của tỉnh Ninh Thuận là Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa và Phước Bình. Kết thúc chương trình khảo sát nhanh trong 11 ngày làm việc tại các điểm khảo sát trên các sinh cảnh rừng khác nhau, nhóm điều tra chim ghi nhận được 58 loài chim thuộc 8 Bộ, 23 Họ, và 46 Chi. Trong tổng số các loài chim ghi nhận được thì có 56 loài (99.55%) là các loài chim định cư phổ biến. Không có các loài chim đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm theo các hệ thống đánh giá của IUCN, sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Hình ảnh một số loài chim ghi nhận tại khu vực khảo sát:

Nguồn ảnh: Bùi Văn Tuấn/GreenViet

Một Số Kinh Nghiệm Nuôi Chim Yến Phụng.

So với nhiều loài chim bộ Vẹt, Yến phụng là loài chim tương đối dễ ghép cặp. Trải qua nhiều thế hệ lai tạo và nuôi nhốt, ngày nay người ta có thể dễ dàng lựa chọn bất kì màu sắc nào để ghép với nhau và cho sinh sản. Nhưng có thể nhận thấy rằng những màu sắc nguyên thủy sẽ dễ dàng bắt cặp hơn, bản năng làm cha mẹ của chim cũng cao hơn những màu lai tạo khác.1. Nói qua về Yến phụng

Chim Yến phụng là loại chim thuộc bộ Vẹt, xuất xứ từ châu Úc, tên khoa học là Melopsittacus undulatus, được xếp vào nhóm vẹt nhỏ đuôi dài. Ngoài thiên nhiên Yến phụng là loài chim nhỏ không có khả năng chiến đấu tự vệ, cách duy nhất bảo vệ chúng khỏi sự truy đuổi của các loài chim săn mồi khác là tốc độ bay nhanh và khả năng ngụy trang cho giống với môi trường xung quanh, cụ thể là bộ lông của chúng phải có màu xanh lá cây viền nâu đen để dễ dàng lẩn vào các tán lá. Những cá thể màu vàng đôi khi cũng xuất hiện ngoài thiên nhiên, là một sự đột biến gen sắc tố, nhưng chúng nhanh chóng bị tiêu diệt vì bộ lông sặc sỡ quá lộ liễu so với đồng loại. Một trong những điểm thu hút của Yến phụng khiến nhiều người chọn nuôi chúng là tính tình dịu dàng và khả năng làm quen đến mức thân mật và tin tưởng tuyệt đối của chúng với các thành viên trong gia đình.

Chim Yến phụng trưởng thành. Như nhiều loài vẹt khác, mỏ Yến phụng khoằm, sắc nhọn, rất thích hợp với việc nhằn gặm các loại hạt ngũ cốc, hạt cỏ… như kê, lúa, lúa mì, hạt hướng dương, hạt yến mạch… Chúng thích ăn rau quả: xà lách, rau cải, rau muống, bắp cải, táo ngọt… thậm chí cả một lát cam vàng cũng đủ cho chú vẹt nhỏ của bạn vui tươi. Yến phụng rất thích tắm, và vì vậy, bạn hãy tạo điều kiện cho chú được tắm hàng ngày. Bạn sẽ được chiêm ngưỡng cảnh một chú chim đứng trên bồn nước nghiêng ngó, vục mỏ vào hất một chút nước lên lưng… Bạn sẽ mỉm cười khi chú ta rón rén chàm chạm ngón chân nhỏ xinh xuống nước, rồi bất ngờ nhảy tùm xuống, xù lông, nằm bẹt, đôi cánh xoãi ra đập mạnh bắn nước tung tóe ra ngoài… Tắm xong, Yến phụng thường chọn nơi có ánh nắng chan hòa mà sưỏi ấm, đôi mắt lim dim khoái trá như chàng trai chuẩn bị áo xống hò hẹn người yêu. Bộ lông được sưởi khô sẽ mượt mà sáng bóng, óng ánh sắc màu… và đẹp, và sinh động, và sặc sỡ như một đóa hoa xinh xắn… Yến phụng con Việc chăm sóc một chú chim nhỏ chắc chắn không đòi hỏi nhiều thời gian công sức, hơn nữa chỉ trong thời gian ngắn ngủi, loài chim đáng yêu này sẽ chinh phục được cảm tình không những của con người, mà cả đến những con vật nuôi khác trong nhà: chúng quá dễ thương, quá ngây thơ mà vẫn láu lỉnh nhanh nhẹn, vẫn tò mò dạn dĩ đúng như bản chất họ nhà vẹt. Có một chú chim Yến phụng nuôi thả tự do trong nhà, bạn nhớ hãy cẩn thận với những trang sách bìa cứng, với những chậu cây xanh… nhất định sẽ có ngày chú chim nhà ta mon men đến gặm thử đấy! So với nhiều loài chim bộ Vẹt, Yến phụng là loài chim tương đối dễ ghép cặp. Trải qua nhiều thế hệ lai tạo và nuôi nhốt, ngày nay người ta có thể dễ dàng lựa chọn bất kì màu sắc nào để ghép với nhau và cho sinh sản. Nhưng có thể nhận thấy rằng những màu sắc nguyên thủy sẽ dễ dàng bắt cặp hơn, bản năng làm cha mẹ của chim cũng cao hơn những màu lai tạo khác.

2. Một số kinh nghiệm nuôi chim Yến phụng

Chọn lồng và mua chim * Chim Yến phụng thể tạng không lớn lắm, nhưng lồng nuôi nên rộng dãi để cho chúng bay nhảy thoải mái, hơn nữa, nuôi yến phụng thường nuôi một cặp nên lồng phải đủ rộng cho cặp chim vận động. Những người có kinh nghiệm nuôi Yến phụng khuyên nên chọn lồng có kích thước 80x40x40 để nuôi một cặp chim. Như thế đảm bảo chim sẽ khỏe mạnh. Lồng để nuôi yến phụng tập thể * Khi đã có lồng, chúng ta có thể chọn mua một cặp yến phụng về nuôi. Trên thị trường hiện nay có nhiều cửa hàng chim cảnh bán Yến phụng với nhiều màu sắc: xanh, tím, vàng, trắng… * Nếu bạn nuôi chơi thì chỉ cần chọn một cặp nào ưng ý, nhưng nếu nuôi sinh sản thì không nên chọn những cặp chim có bộ lông màu vàng, hoặc trắng, mắt màu đỏ, vì hai loài này có xu hướng đẻ ít hơn các loài khác. * Nên lựa bắt những con “tơ”, tức là chim lứa mới ra. Đặc điểm nhận biết của chim tơ là mắt tròn, to, đen láy, linh hoạt, chân hồng hào, thân hình gọn gàng, chắc gọn, khi bắt trên tay thấy ít giãy giụa, ít cắn. Không nên chọn những con mà mắt có nhiều tròng trắng, chân màu xám, xù xì, thân hình mập, hay đứng xù lông, hoặc cứ bám vào vách lồng, lông đuôi không còn đủ… vì những con chim này có thể là chim già hoặc có vấn đề về sức khỏe. * Muốn phân biệt Yến phụng trống – mái, bạn nhìn vào mũi chim: ở chim non, mũi con trống có màu hồng tươi, còn mũi chim mái thì trắng đục như lòng trắng trứng luộc. Khi chim đã trưởng thành, ở những con trống sẫm màu (xanh lá cây, xanh dương, tím, nâu, xám…) mũi chúng chuyển sang xanh dương sẫm, còn ở những con trống màu nhạt (vàng tinh, trắng tinh, vàng bông, trắng bông-vàng, trắng pha đốm xanh, xám, tím… ) thì mũi chúng vẫn giữ màu hồng tươi như khi còn nhỏ. Chim mái trưởng thành thì mũi có màu trắng bẩn ngả nâu, màu lông nào cũng vậy. * Nếu muốn mua một đôi chim đẻ, tốt nhất là bạn nên đến các trại chim, hỏi mua cả cặp (không nên thấy con này con kia đẹp mà đòi tách nó ra), và nhớ là chỉ mua cặp nào đang nuôi con, Yến phụng vốn khó tính, nếu mua cặp đang ấp, mình đem về nhà có thể chim sẽ bỏ ấp, và… bỏ nhau luôn. Chăm sóc chim Yến phụng* Sau khi mua chim về, cần phải nhẹ nhàng thả vào lồng, tránh làm chúng hoảng sợ. Trong lồng phải treo nhiều “đồ chơi” như vòng (để chim đánh đu), nhánh cây (để chim leo trèo). Lồng chim phải đặt nơi yên tĩnh, ít chó mèo qua lại, ít nắng chiếu trực tiếp, và không bị gió lùa, mưa hắt. * Cho ăn: Yến phụng rất dễ nuôi, cho ăn lúa không nó cũng sống! Một số người nuôi yến phụng thường cho chim ăn kết hợp thóc (lúa) và kê, theo tỷ lệ 1:1. Khi chim sinh sản thì tăng thêm kê (tỷ lệ 1 thóc: 1,5 kê) và thỉnh thoảng cho ăn bắp non để chim nuôi con. Ngoài ra, phải cho chim ăn thêm rau xanh, như xà lách, rau muống. Khi cho chim ăn rau, bạn cần lựa và ngâm rửa kĩ thật kỹ, thậm chí kỹ cho người ăn vì chim dễ bị ngộ độc dẫn đến tiêu chảy Giai đoạn chim chuẩn bị sinh sản cũng cần bổ sung một số khoáng chất vi lượng như Canxi, Magiê, Sắt… để chim non sau này được cứng cáp, khỏe mạnh. * Tắm: Yến phụng rất thích tắm, (bạn cho ăn rau mà còn nước, sẽ thấy nó lao vô “tắm khô” trong… lá xà lách). Khoảng 3 ngày một lần, bạn để một dĩa nước nhỏ, có pha thêm chút muối vào lồng, để chim tắm mát, và ngừa rận mạt. * Vệ sinh: phân Yến phụng không hôi như phân gà vịt hay cà cưỡng, nhưng cứ 2 ngày một bạn nhớ thay vỉ phân bên dưới đi, để lâu vừa mất vệ sinh vừa là nguồn gốc bệnh tật. * Bệnh: Yến phụng dễ bị tiêu chảy nếu ăn phải thức ăn kém chất lượng hoặc nhiễm độc. Khi bị tiêu chảy phân chim có mùi rất hôi. Ngoài thị trường có nhiều nơi bán thuốc trị tiêu chảy dùng cho chim, nếu bị nhẹ thì để một hai ngày cũng tự khỏi, nhưng tốt nhất là bạn nên cẩn thận khi chuẩn bị thức ăn cho chim, rau quả trước khi cho chúng ăn phải ngâm rửa thật sạch sẽ. Chim nuôi sinh sản cần vệ sinh ổ đẻ thật sạch để hạn chế cho chim khỏi bị mạt cắn. Để phòng ngừa mạt bạn nên dùng ổ đẻ có máng phân, nuôi chim trong lồng sắt để hạn chế mạt. ngoài ra cũng cần lưu ý, không nuôi chim ở gần chổ nuôi gà, bồ câu để tránh mạt lan sang. Tổng hợpNguồn: chúng tôi

Một Số Kinh Nghiệm Dẫn Dụ Chim Yến

Một nhà yến thành công tổng hợp của rất nhiều yếu tố từ khi bắt đầu xây dựng đến khi vận hành. Hiện nay, có nhiều nhà yến khá thành công nhưng cũng có nhiều nhà đầu tư rất tốn kém mà chim chưa vào làm tổ hoặc làm tổ rất ít dù đã vận hành một thời gian dài.

Vị trí, cấu trúc nhà, kỹ thuật xây dựng, âm thanh dẫn dụ, bố trí loa, vật liệu để chim đu bám làm tổ và đặc biệt là các yếu tố vi khí hậu trong nhà yến.. là những yếu tố quyết định sự thành công của việc nuôi chim yến. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm của Ban Quản lý và Khai thác yến Cù Lao Chàm, Hội An về dẫn dụ chim yến vào nhà yến sao cho hiệu quả.

Âm thanh dẫn dụ

Âm thanh dùng cho nhà yến là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của nhà yến. Sau khi xây dựng nhà yến đạt chuẩn về yêu cầu kỹ thuật, nếu sử dụng âm thanh thích hợp thì chưa cần tạo mùi sinh cảnh, chim yến vẫn vào ở và làm tổ.

Âm lượng phát ra từ loa cửa cho nhà yến là một vấn đề đáng quan tâm, theo quy định hiện nay là không quá 70db. Trong thực tế hầu hết các nhà yến đều mở loa vượt cường độ cho phép và nhà nước rất khó kiểm soát vấn đề này. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì tiếng kêu chim yến trong tự nhiên có cường độ thường dưới 50 db, nhưng do sự cạnh tranh của người nuôi, muốn nhà mình thu hút được nhiều chim yến hơn nhà khác nên đẩy âm lượng lên cao không cần thiết, làm ảnh hưởng đến các hoạt động sống của những người xung quanh. Nếu mở loa cửa với âm lượng quá lớn sẽ làm cho chim yến bay về gần cửa rồi tản ra chứ không chui vào cửa nhà yến. Kinh nghiệm cho thấy loa cửa khi mở đứng cách khoảng 5m nghe rõ và không chói tai là đã có tác dụng. Loa dẫn chim vào cửa nhà, vào các phòng cũng mở vừa đủ chim nghe thấy tìm vào và không lạm dụng quá nhiều loa khiến chim mất phương hướng. Riêng loa ru mở rất nhỏ để tạo sự yên tâm cho chim khi đã vào đu bám, mở lớn và nhiều cũng khiến chim mất phương hướng bay tới bay lui mà không biết đậu chỗ nào.

Để khắc phục vấn đề mở loa nhà yến quá to thì ngoài quy định là mở loa với cường độ thích hợp với tập tính của chim yến (dưới 70db) nhưng phải đo ngay trước miệng loa và phải có biện pháp giám sát tự động cùng chế tài đủ mạnh với những chủ nhà yến mở âm thanh vượt mức cho phép.

Cũng cần phải xem xét về thời gian phát tiếng kêu, liệu có cần thiết phải mở loa ngoài từ sáng sớm đến chiều tối không?! Theo các kết quả nghiên cứu nhận thấy chim yến rời hang đi kiếm ăn từ sáng sớm và trở về tổ một hay nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào thời điểm trong hay ngoài mùa sinh sản. Buổi sáng đến thời điểm nhất định chim tự động bay đi kiếm ăn như nhiều loài khác, mở loa sáng sớm như một cách đánh thức chim là không cần thiết. Như vậy tiếng kêu chỉ cần phát vào buổi chiều để thu chim trở về nhà nhiều hơn mà thôi (nhà mới xây), thu hút thêm những chim mới (nhà yến cũ), những chim đã ở lại lâu rồi thì không cần tiếng kêu này chúng vẫn về đúng nhà, đúng tổ của mình. Nếu thực hiện thống nhất về mức âm lượng và thời gian phát âm thanh thì cũng không còn phải lo lắng rằng chim nhà mình sẽ bị nhà khác dẫn dụ đi hết (trừ khi các yếu tố kỹ thuật khác trong nhà không đảm bảo khiến chim bỏ đi).

Dàn loa trong nhà yến.

Theo một số tài liệu nghiên cứu về âm sinh học thì tiếng kêu của chim yến có nhiều mục đích khác nhau như: báo hiệu có nhiều thức ăn, kêu cứu khi có địch hại, giao hoan, đòi ăn của chim non, chim tơ, mớm mồi của chim bố mẹ…vv. Ở Malaisia và Indonesia có nhiều công ty chuyên thu tiếng kêu thật của chim yến từ các hang động hay từ nhà yến đông đúc để sản xuất các file âm thanh bán ra thị trường. Các nhà yến Việt Nam chủ yếu sử dụng tiếng kêu này và mỗi nhà mỗi kiểu, phụ thuộc vào kinh nghiệm của cá nhân hay tổ chức tư vấn xây dựng, lắp đặt và vận hành. Việc thay đổi tiếng kêu thường xuyên thường tạo ra sự mới lạ khiến chim yến vờn nhiều hơn (cả chim đã ở lâu cũng vờn) nhưng theo chúng tôi không nên lạm dụng vì với tập tính bầy đàn và bảo thủ nơi ở của chim yến, một khi đã ở lại làm tổ thì chim cũng ít vờn quanh trước cửa ra vào nhà của mình. Một số nhà yến dùng âm thanh có từ rất lâu và cố định nhưng chim vẫn phát triển đều. Kinh nghiệm cho thấy các nhà yến dùng nhiều loại tiếng kêu và mở lớn thì chim thường phấn chấn vờn nhiều nhưng hiệu quả ở lại không cao vì nhiễu loạn tiếng kêu trong nhà làm chim mất phương hướng, không tạo ra môi trường tự nhiên và yên tâm cho chim yến.

Tóm lại, nên dùng 2 đến 3 loại tiếng kêu cho nhà yến để phát 3 loại loa là loa phóng ở cửa, loa dẫn vào nhà, vào phòng và loa ru. Nhiều nhà yến chỉ sử dụng 2 loại tiếng kêu, 1 loại chung cho loa phóng cửa và loa dẫn (khác nhau về âm lượng) và 1 loại cho loa ru cũng cho thấy hiệu quả rất tốt. Thậm chí có nhà chỉ dùng 1 loại tiếng kêu nhưng vẫn có chim yến vào làm tổ. Ngoài ra, việc sử dụng loại tiếng kêu linh hoạt và điều chỉnh âm lượng phối hợp cho từng loại tiếng kêu trong nhà yến là rất quan trọng, phụ thuộc kiến thức và kinh nghiệm của người sử dụng âm thanh. Nếu có đủ kinh nghiệm hay cơ sở phân biệt tiếng kêu đó nhằm mục đích gì, tập trung vào thời điểm nào trong ngày, trong mùa, trong năm thì việc linh hoạt trong sử dụng tiếng kêu sẽ đem lại hiệu quả dẫn dụ cao hơn.

Mùi dẫn dụ

Khi chim yến nghe theo âm thanh vào nhà và bay đến từng ngóc ngách của ngôi nhà, nếu ở lại sẽ thải phân ngay vị trí chim đeo bám và đây cũng là dấu hiệu để nhận biết chim đã ở lại trong nhà hay chưa, nhiều hay ít. Phân chim yến chứa nhiều xác côn trùng, được các vi sinh vật phân hủy tạo ra hỗn hợp các khí như NH 3, H 2S, NO 2, CO, CO 2… gây nên mùi tanh, khai đặc trưng hay gọi là mùi sinh cảnh. Một hang động hay một nhà yến có chim yến sống đông đúc thì mùi này càng đặc trưng khi bước vào cửa. Tuy nhiên, phân chim yến mới thải ra ẩm ướt mới có mùi này, phân cũ sau vài tuần không còn mùi đặc trưng này nữa. Đây là mùi đặc trưng và quen thuộc của bầy đàn yến, giúp chim yến có được sự yên tâm rằng đây là nhà của mình để ở lại và làm tổ. Lợi dụng tập tính này nên khi xây dựng nhà yến, ngoài âm thanh thì yếu tố thứ 2 cần quan tâm đó là tạo mùi sinh cảnh cho nhà yến mới giống như những hang động hoặc nhà yến cũ đã có nhiều chim yến.

Tạo mùi cho nhà yến hiện nay có nhiều kỹ thuật, thường sử dụng nhất là lấy phân tự nhiên của chim yến từ hang động hoặc từ những nhà yến có nhiều chim yến đưa vào trong nhà yến mới. Cách làm này có ưu điểm là mùi sinh cảnh tự nhiên của chim yến nên rất thích hợp để chim làm quen nhà và yên tâm ở lại. Tuy nhiên, lượng phân chim đưa vào phải là phân chim mới thải ra, số lượng cần nhiều và phải bổ sung liên tục sau khoảng vài tuần vì để lâu phân hết tác dụng tạo mùi, bổ sung như vậy đến khi nào chim vào ở lại trong nhà được một số lượng nhất định thì không cần bổ sung nữa. Để có được lượng phân mới, nhiều và bổ sung thường xuyên như vậy cũng khá khó khăn và tốn kém trong giai đoạn hiện nay, chưa kể đến việc các sinh vật gây hại, mầm bệnh theo phân chim yến này để đi vào nhà yến mới. Lưu ý là khi dùng phân chim yến tự nhiên đưa vào nhà yến chỉ giữ ẩm mới tạo mùi sinh cảnh quen thuộc cho chim yến. Ngâm phân với nước như nhiều người vẫn làm thì không còn tác dụng tạo mùi sinh cảnh thích hợp vì phân chim bị thủy phân sẽ cho ra các mùi lạ khác, không giống như mùi khai khi vi sinh vật phân hủy tự nhiên. Các nước trong khu vực như Malaisia, Indonesia, Thái Lan từ lâu đã không cho sử dụng phân yến tự nhiên để tạo mùi cho các nhà yến mới vì vấn đề vệ sinh dịch tễ và ô nhiễm môi trường. Những nhà yến đã có nhiều chim thì phân chim yến cần phải thu dọn hàng tuần, nếu tồn đọng nhiều và lâu ngày trong nhà yến mà không có biện pháp xử lí sẽ là môi trường cho mầm bệnh phát sinh.

Để khắc phục những hạn chế trên, nhiều cá nhân và công ty kỹ thuật nuôi yến đã chế tạo ra các sản phẩm tạo mùi sinh cảnh nhân tạo từ sự lên men các chất dinh dưỡng có trong cơ thể côn trùng, xác động vật, mỡ cá, trùn biển…vv, để dẫn dụ chim yến cho các nhà yến. Các sản phẩm này chủ yếu có nguồn gốc từ Malaisia, Indonesia và Việt Nam cũng có một số sản phẩm trên thị trường. Các mùi sinh cảnh nhân tạo này khi sử dụng cũng có chim yến vào ở lại và làm tổ nhưng cũng chưa khẳng định được hiệu quả rõ rệt là mùi chim ưa thích. Việc sử dụng các mùi nhân tạo cũng theo kinh nghiệm của những người nuôi yến lâu năm và khuyến cáo của nhà sản xuất, chưa có quy chuẩn rõ ràng trong việc sử dụng các mùi này hay ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của nó. Việc sử dụng mùi nhân tạo này cũng phải thường xuyên, bổ sung liên tục trong giai đoạn đầu, đến khi trong nhà đã có một số lượng chim yến vào ở lại nhất định thì ngừng bổ sung.

Trên thị trường hiện nay có đến hơn 30 loại chất tạo mùi sinh cảnh để dẫn dụ chim yến cho các nhà yến, tuy nhiên cần cân nhắc kỹ khi sử dụng vì có thể không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí có thể làm chim yến bỏ đi.

Thanh làm tổ

Chim yến lần theo các tín hiệu của âm thanh để vào nhà yến, cùng với mùi sinh cảnh dẫn dụ, nếu cảm thấy thấy thích hợp thì nhiều chim sẽ ở lại (chủ yếu là chim yến tơ). Khi ở lại trong nhà chim yến sẽ lựa chọn một vị trí thích hợp để đu bám và làm tổ trên các thanh làm tổ. Có nhiều loại vật liệu được sử dụng làm thanh làm tổ mà chim yến có thể đu bám được, phổ biến nhất là các loại ván gỗ chuyên dụng cho nhà yến như meranit, bạch Tùng, mít nài, giẻ đỏ, trâm vàng, xoan… Một số nhà sử dụng lam xi măng hay lam đá tự nhiên để chim yến đu bám và làm tổ. Kết quả nghiên cứu ban đầu của chúng tôi nhận thấy mỗi loại vật liệu làm thanh làm tổ đều có những ưu, nhược điểm riêng. Giá thành tổ yến trên thị trường hiện nay rất khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ của tổ yến, sự tin dùng lâu năm của người sử dụng và một phần cũng bị chi phối bởi vật liệu được sử dụng làm thanh làm tổ trong nhà yến.

Ván gỗ chuyên dụng dùng cho nhà yến.

Lam làm từ gỗ thì lắp đặt nhẹ, giá thành tùy loại gỗ nhưng cũng khá cao, chim ưu thích đu bám và làm tổ nhanh. Trên lam gỗ, màu sắc tổ thường trắng sáng, hình dạng và kích thước tổ không căng tròn, không được ưa chuộng nhiều nên giá thành thường thấp (giá bán bằng khoảng ¼ giá bán tổ yến đảo). Kết quả khảo sát còn cho thấy độ cứng và bề rộng của ván gỗ khác nhau thì hình dạng, kích thước và khối lượng tổ yến có sự sai khác rõ. Trên ván gỗ tổ thường bị hút nước mạnh hơn các vật liệu khác, nhiều tổ hay bị nhăn nhúm, cong vênh, nhìn không đẹp, gỗ cứng hơn thì tổ đẹp hơn.

Một số nhà yến sử dụng thanh lam đúc bằng xi măng để chim đu bám. Kết quả cho thấy chim vẫn đu bám và làm tổ bình thường, giá thành thấp nhưng lắp đặt nặng hơn. Đặc biệt chân tổ thường lẫn tạp chất của vôi vữa khi thu hoạch tổ, khó gia công, thị trường cũng không ưa chuộng. Tổ trên lam xi-măng cũng giống như trên gỗ, không giống hình dạng tổ yến đảo nên giá bán cũng không cao.

Lam đá tự nhiên được nhiều nhà yến sử dụng, đặc biệt là nhà yến khu vực miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng. Trên lam đá này thì tổ yến to tròn hơn, rất giống tổ yến đảo, được ưa chuộng (đặc biệt là thị trường nước ngoài) nên giá bán cũng khá cao (bằng 1/3-1/2 giá tổ yến đảo). Lam đá chẻ thì giá thành vẫn rẻ hơn lam gỗ và lắp đặt cũng không khó, tuy nhiên trong giai đoạn đầu chim vào làm tổ sẽ chậm hơn lam gỗ vì chim chưa quen với bề mặt của đá, sau thời gian thì chim vẫn phát triển bình thường. Ngoài ra, ưu điểm lớn của lam đá tự nhiên là không bị mối mọt hay nấm mốc. Đá chọn làm lam thường là đá xanh, đá vôi mô phỏng theo đá các đảo yến tự nhiên, chẻ miếng quy cách dày khoảng 1,5 cm, rộng 15 – 20cm, dài 60 cm, bề mặt để nhám hay kẻ một số rãnh nhỏ để chim dễ bám.

Theo Ban Quản lý và Khai thác yến Cù Lao Chàm, Hội An (tài liệu Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp)

Tả Về Một Loài Chim Mà Em Yêu Quý

Tả về một loài chim em yêu quý – Bài làm 1

Em đã được ba kể về rất nhiều loài chim, mỗi loài chim lại có những đặc điểm và vẻ đẹp khác nhau. Tuy nhiên chim sẻ có thể nói là loại chim thân thuộc nhất mà em biết. Chim sẻ không có vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa như những loài chim khác nhưng đối với em nó lại rất cuốn hút.

Chim sẻ hay còn gọi là chim ngói, thức ăn chính của nó có lẽ là thóc, gạo. Vì em thấy nó thường bay sà xuống sân thóc nhà em mổ lấy mổ để đến lúc nào căng bụng mới thôi.

Bộ lông của chim sẻ màu chàm nhạt. Loại chim này không to, thân hình nhỏ nhắn, rất thuận tiện trong việc di chuyển và bay nhảy. Mỗi lần nó sà xuống em lại thấy được sự nhanh nhẹn, luyến thoắng. Có lẽ đây chính là điểm mạnh của nó.

Chim sẻ không đi tách biệt một thân một mình mà thường bay theo đàn. Con nào cũng giống con nấy về kích thước, trừ những con bé thì có kích thước nhỏ hơn một tý. Nhưng khi trưởng thành thì nó đều có kích thước ngang bằng nhau.

Tả về một loài chim mà em biết – Bài làm 2

Vào dịp sinh nhật em tròn 8 tuổi, ba em đã tặng cho em một con chim chích chòe lửa rất xinh đẹp. Em đã đặt tên cho chích chòe là Mỹ, chúng em đã thật sự trở thành những người bạn từ hôm đó, và bây giờ Mỹ của em không còn nhỏ bé đáng yêu, mà đã trở thành cô chích chòe tinh nghịch, và duyên dáng.

Mỹ hay hót và hót rất hay, nó là giống cái, có thân hình nhỏ nhắn , nó có vẻ ngoài gồm ba màu chủ đạo là: Đen, cam,và trắng, Mỹ có bộ đuôi rất dài và thướt tha, luôn cong ngược lên , trông thật điều đà và kiêu sa. Bộ lông của em rất dày và mềm mại, ấm áp được tô vẽ bởi ba màu sắc rất rực rỡ, đôi mắt đen huyền long lanh, cùng với đôi chân nhỏ và thanh thoát . Thức ăn yêu thích của Mỹ chính là những chú côn trùng , đặc biệt là châu chấu , em hay ra đồng để bắt những chú chấu chấu béo nục bỏ vào chai đem về cho Mỹ ăn dần .

Em rất yêu Mỹ cũng như loài chim chích chòe lửa, đây là một loài chim rất nhanh nhẹn , thích bay nhảy và hót líu lo suốt ngày. Nó sẽ khiến bạn cảm thấy vui vẻ và thanh bình mỗi khi nghe tiếng hót cũng như ngắm nhìn nó.

Tả về một loài chim em yêu thích – Bài làm 3

Thế giới vạn vật muôn sắc màu, những giống, loài chim cũng phong phú đa dạng như thế. Trong số đó loài chim mà tôi yêu thích nhất chính là chim chích chòe bởi chúng có một giọng ca rất tuyệt.

Buổi sáng sớm tôi đã nghe được tiếng chim hót ở đâu đó làm tôi bỗng tỉnh giấc. Có vẻ do hôm nay là chủ nhật nên muốn dể tôi ngủ thêm chút nữa. Tiếng chim làm tôi ngó ra ngoài cửa sổ xem thì ra đó là những con chim chích chòe con. Tôi đoán những con chim này mới được một tần tuổi thôi.

Tôi vội ra ngoài xem thì ra chúng làm tổ trên cây cau ngay chỗ sân vườn nhà tôi. Tôi thấy hình như có khoảng năm con thì phải. Nhìn chúng thật là tuyệt. Chúng khoác trên mình một bộ lông màu nâu xếp như vảy trên lưng và đầu. Chúng có đôi mắt to trong như hai hòn bi đen nhánh vậy. Tôi chăm chú nhìn chúng mà không thấy chán. Chúng có đôi chân nhỏ xíu nhưng lại rất vững chắc có thể bám trên các cành cây mà không hề sợ lung lay hay nghiêng ngả gì cả. Chúng đang cất tiếng ca có phần hơi nhỏ nhưng lại rất vang vọng khiến, dường như chúng đang gọi mẹ chúng đang không thấy mẹ đi đâu. Nhìn lũ chim lúc này thấy thật tội nghiệp. Nhìn về hướng chúng đang nhìn tôi thấy chúng đang hướng về chỗ vườn rau nhà tôi. Thì ra mẹ của chúng đang ở đó kiếm mồi. Đôi lúc nó ngó lên nhìn các con của mình nên chúng mới gọi mẹ như thế. một lúc sau con mẹ đã bay lên và cho các con cua mình ăn sáng. Trông con mẹ cũng rất đẹp, nó khoác màu lông xám đen ở trên còn ở dưới thì là màu trắng rất đẹp. Con mẹ mới lên đến tổ là những chú chim con đã ùa ra với mẹ. Con chim mẹ đút từng miếng mồi cho đàn gà con., chỉ một loáng sau là con nào con đấy đã có những con sâu béo ú ụ trong mồm. Chúng nhai ngấu nghiến nhìn thật là dễ thương. Tôi cũng không hiểu tại sao chỉ với cái mồm bé tẹo như thê mà con chim mẹ lại có thể đút rất nhiều thức ăn vào đó được. Sau khi đã ăn xong chúng lại rúc vào lòng mẹ nhìn thật thích. Tôi chăm chú ngắm chúng mãi không thôi cho đến khi mẹ tôi gọi tôi vào. Hôm nay tôi được ngắm đàn gà đã khiến tôi thấy tâm trạng phấn khởi hẳn lên như đang được tiếp thêm sức sống vậy.

Như vậy là đàn chim chích chòe đã làm tổ ở vườn nhà tôi. Tôi nhất định sẽ cố gắng bảo vệ chúng không để chúng bị con người săn bắt.

Tả về một loài chim mà em yêu quý – Bài làm 4

Các chú ở đồn Biên phòng bắt được một con chim hải âu sau trận bão. Con chim bị ốm nên đã lạc đàn. Bộ dạng nó ngơ ngẩn buồn thương.

– Không ai giết và ăn thịt chim hải âu bao giờ – Một bác sĩ Quàn y đã nói thế.

Chim được cứu chữa, được săn sóc. Đến ngày thứ ba thì nó trở nên nhanh nhẹn. Nó vừa nhớ biển vừa lưu luyến con người.

Đến với biển là ta gặp hải âu. Hải âu là loài chim biển bơi lội giỏi, có thể bay trong bão tố. Nó có sải cánh dài, có con đài tới trên dưới 4 mét. Cánh dài nhưng hẹp và phẳng như tấm ván với bộ lông ken dày, vừa mềm dẻo vừa bóng không ướt, không thấm nước. Hải âu có thể bay suốt ngày không vỗ cánh, không mệt mỏi; nhìn hải âu bay ta tưởng như một chiếc tàu lượn trên không.

Chiếc mỏ dài nâu đen có sọc trắng, ngoài cùng hơi cụp xuống, quắp lại. Mắt to, tròn đen, có viền một vòng lông trắng óng ánh. Lông hải âu phần lớn chỉ có hai màu: màu xám phía trên lưng, đuôi và cánh; phía dưới cổ, bụng, cánh và đuôi lại trắng mịn màng. Chăn lông ngỗng như chăn của Mỵ Châu đã quý, nhưng nếu có chăn lông bụng hải âu, em nghĩ, còn quý hơn nhiều. Mùa đông rét đắp thì ấm lắm.

Những dân chài lưới ở Vân Đồn cho hay: mùa xuân là mùa sinh sản của hải âu. Nó làm tổ ở vách đảo, đẻ trứng và nuôi con; mẹ con sống ở gần bờ một thời gian ngắn rồi bay ra biển xa. Ngoài mùa sinh sản, hải âu suốt ngày đêm ở ngoài khơi kể cả khi biển động và gió bão. Những đêm trăng, hải âu vẫn chao cánh bay lượn dệt biển. Cũng có lúc chúng nghỉ ngơi bằng cách đậu xuống nước, bồng bềnh trên biển. Chân hải âu màu nâu hồng, có màng như chân vịt giúp chúng bơi lặn dưới nước giỏi như khi bay trên trời. Tôm cá là thức ăn chính của hải âu. Cảnh hải âu bắt cá chuồn bay trông thật ngoạn mục. Các chuyên gia Nga công tác ở Vũng Tàu thường đứng trên tháp giàn khoan dầu tung bánh mi cho hải âu. Các chú Hải quân cho biết, ở quần đảo Trường Sa, những chiều nắng đẹp có hàng nghìn hải âu dệt biển, đứng trên các hạm tàu dõi theo cứ ngỡ là có muôn vàn chiếc thoi của các cô thợ dệt trong điệu múa tung lên trời.

Đồng bào ở Móng Cái gọi hải âu là con chim mố, nên mới có câu tục ngữ: “Mặt trời lấp ló, chim mô tung đàn”. Nghĩa là mặt trời vừa mọc đã thấy hải âu bay đầy trời đầy biển. Hải âu là bạn lành của người dân chài, của người đi biển.

Sau một tuần hải âu bình phục, chú bác sĩ Quân y đeo vào chân chim một vòng đồng nhỏ xinh xắn rồi trả hải âu về với biển với trời. Chim vút cánh bay lên, vòng đi vòng lại ba bốn lần, rồi bay vút đi xa. Chú nói: “Vòng lượn của hải âu vừa rồi là lời chào giã biệt nghĩa tình. Hải âu bay cao, bay xa, bay mãi là cánh bay tự do. Chim hải âu về với biển rộng trời cao là nâng cánh tự do cho con chim hiền lành, tốt bụng…”.

Những điều về hải âu được kể lại ở đây là những điều em đã nhìn thấy nghe thấy trong dịp nghỉ hè năm 2005 khi ra thăm bố em – bộ đội Hải quân đang đóng tại đảo Cái Rồng thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Sự tích về chim hải âu sao nhiều buồn thương thế ! Ơi con chim lành đáng yêu của biển quê hương.

Miêu tả về một loài chim em yêu quý – Bài làm 5

Trong các loài chim mà em biết, em thích nhất là chim bồ câu trắng vì đó là loài chim biểu tượng cho hòa bình.

Chim bồ câu là một loài chim rất thông minh, cho nên ngày xưa chim bồ câu giúp con người đưa thư. Còn bây giờ, chúng được nuôi làm cảnh. Nhà ông nội em cũng nuôi một đôi chim bồ câu trắng. Nó có bộ lông trắng muốt, mịn màng. Thân hình của nó chỉ bằng cái ấm pha trà của ông nội. Đầu chim bồ câu to hơn quả quất một chút, thi thoảng cái đầu cứ lúc lắc thật khó hiểu. Đôi mắt nó tròn xoe, đen láy như hạt na trông thật hiền lành. Cặp mỏ của nó nhỏ xíu màu hồng nhạt, trông rất đáng yêu.

Chim bồ câu thường đứng rỉa lông, lâu lâu lại dụi mỏ vào trong đôi cánh xếp gọn hai bên mình. Hai chân nhỏ bé nhưng vô cùng nhanh nhẹn. Đôi chim bồ câu nhà ông nội em không nhát người như những chú bồ câu khác. Chúng thường xán lại mổ những hạt kê trên tay em. Khi chúng xòe cánh bay đi, trong lòng em cảm thấy rất vui và thấy chúng thật đẹp.

Vào mỗi buổi sáng, được nghe tiếng “gù gù…” của chúng em cảm thấy thật bình yên và thích thú. Em rất yêu thích và quý mến loài chim này.

Tả về một loài chim em yêu quý – Bài làm 6

Chim sơn ca còn gọi là chim chiền chiện. Chúng sống ở ngoài đồng, mình và lông màu cỏ úa có vân và sọc trắng, gần giống như chim sẻ, nhưng mỏ dài và chân bé hơn.

Chim sơn ca là giống chim hay hót, nhất là về mùa xuân. Thường thường nó vừa bay, vừa hót, càng bay cao giọng càng véo von. Tiếng hót to, ngân dài, có khi nó bay thật cao, ta không hề trông thấy cánh chim mà vẫn nghe sơn ca hót.

Khi sơn ca không bay thì đậu ở dưới đất chứ không đậu trên cành cây, mà những lúc đậu ở dưới đất thì nó không hót bao giờ. Sơn ca làm tổ ở vồng khoai, gổc cây, bụi cỏ rậm.

Những người chơi chim cảnh thường bắt chim non vừa khi mới nở, nuôi và luyện rất công phu mới có chim sơn ca hót trong lồng son.

Từ khóa từ Google

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Nét Về Loài Chim Yến trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!