Xu Hướng 3/2024 # Kỹ Thuật Nuôi Chim Trĩ Đỏ Sinh Sản Làm Giàu Cho Gia Đình # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Nuôi Chim Trĩ Đỏ Sinh Sản Làm Giàu Cho Gia Đình được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kỹ thuật nuôi chim Trĩ dường như vẫn rất xa lạ với nhiều người bởi đây là loài chim đẹp, hiếm vì nguồn cung cấp giống chưa được mở rộng.

Cách chọn giống chim trĩ sinh sản

Để thuận lợi trong việc nuôi và chăm sóc, đối với những người mới nuôi hoặc chưa có kinh nghiệm nuôi trĩ đỏ nên hạn chế việc đầu tư mua con giống nhỏ quá. Người mua nên chọn mua những cá thể chim ở thời kỳ 3 – 5 tháng tuổi hoặc chim hậu bị.

Trọn chim trống có ngoại hình to, cao, đuôi dài, lông mượt, trường chim, dáng khỏe mạnh, lanh lợi. Nếu ở thời kỳ trưởng thành chim trống luôn trong tư thế nghiêng mình xung trận. Còn đối với chim mái không dị hình, dị tật. Để đảm bảo giống nên mua chim ở những cơ sở gây nuôi uy tín và có nhiều năm kinh nghiệm để lựa được những cá thể chim khỏe mạnh, không bị đồng huyết, cũng như được tư vẫn về kỹ thuật gây nuôi cụ thể.

Chuồng

Nếu nuôi chim trĩ cảnh chắc chắn không cần quá cầu kỳ trong khâu làm chuồng nhưng nếu là chim trĩ đỏ sinh sản thì công đoạn làm chuồng cũng mất nhiều thời gian. Trước tiên phải chọn ở vị trí chuồng nuôi cao ráo, thoáng mát, cách xa các trại nuôi gia súc, gia cầm khác để hạn chế rủi ro lây nhiễm bệnh. Chuồng trại phải đảm bảo giữ ấm về mùa Đông, mát về mùa Hè. Nền chuồng phải bằng phẳng, tiện cho công tác dọn vệ sinh.

Kỹ thuật nuôi chim trĩ đỏ sinh sản

Trong kỹ thuật nuôi chim trĩ đỏ sinh sản trước tiên cần phải tiến hành ấp trứng. Thường có 2 cách cơ bản để ấp trứng trĩ. Đầu tiên dùng vật nuôi khác có thân nhiệt và điều kiện ấp nở tương tự như gà mái hoa mơ, gà tre .. . Thứ 2 là dùng máy ấp gia cầm thông thường. Thời gian ấp nở khoảng 22 -23 ngày . Hiệu chỉnh nhiệt độ , độ ẩm tùy theo giai đoạn.

Điều kiện nhiệt độ ấp trong tuần đầu là 37,5 độ C , Độ ẩm 55 %. Tuần thứ 2 Nhiệt độ 37,3 độ C , Độ ẩm 60 %. Tuần thứ 3 trở đi nhiệt độ 37 độ , Độ ẩm 75 %.

Chim trĩ giống bình quân sau khi nuôi đến 8 tháng tuổi có thể đẻ trứng. Thời gian đẻ thường từ đầu tháng 1 âm lịch đến khoảng tháng 4 âm lịch. Sau đó chim trĩ ngừng đẻ khoảng 1 tháng rồi tiếp tục đẻ lứa thứ 2 đến khoảng tháng 8 âm lịch thì nghỉ. Bình quân mỗi năm 1 chim mái có thể đẻ từ 68 -80 trứng .

Dinh dưỡng

Chim trĩ không kén thức ăn chủ yếu là ngô, thóc, cám, gạo. Ngoài ra kết hợp cho ăn thêm rau muống, bèo tây, thân cây chuối thái nhỏ… Hạn chế cho các loại thức ăn tôm, cua, cá có thể dẫn đến tình trạng chim bị tiêu chảy. Mỗi ngày nên cho ăn 3 lần. Bên cạnh máng thức ăn có máng cát sỏi cho chim đào bới. Nước cho chim uống phải sạch. Chim trĩ không kén thức ăn, tiêu tốn thức ăn chỉ bằng 1/2 so với gà.

Theo kinh nghiệm của anh Thể, đầu tư nuôi chim trĩ và gà không khác nhiều về chuồng trại, thức ăn. Tuy nhiên nuôi chim trĩ tỷ lệ thành công cao hơn vì đây là động vật hoang dã nên sức đề kháng tốt hơn. Thức ăn cho chim cũng đơn giản, dễ kiếm chủ yếu là cám gạo, ngô, cám tổng hợp cho gà, rau xanh, cỏ…

Vệ sinh chuồng trại

Thường xuyên vệ sinh chuồng trại định kỳ 2- 3 lần / tuần. Phun thuốc khủ trùng định kỳ. Thường xuyên kiểm tra để loại bỏ các vật sắc, nhọn, sợi ninong trong khu vực nuôi đề phòng chim ăn phải sẽ dẫn đến tủng diều, chết.

Các bệnh thường gặp

Trong quá trình nuôi chim trĩ đỏ cần chú ý tới bệnh tiêu chảy, Ecoli. Để phòng bệnh nên dùng vaccin đặc trị Ecoli cho gia cầm tiêm hoặc cho uống. Ngoài ra chúng cũng thường mắc bệnh về đường hô hấp như thở khò khè, chảy nước mũi, thở ngáp rồi chết. Do đó, để đảm bảo tỉ lệ nuôi thành công thì khâu vệ sinh chuồng trại là 1 yếu tố rất quan trọng.

Giá trị kinh tế

Vốn là giống hoang dã lại được chăn nuôi sạch nên chim trĩ đỏ thịt chắc, mềm, ngọt. Thịt và trứng chim trĩ đỏ có giá trị dinh dưỡng cao nên dễ tiêu thụ. Giá chim trĩ thương phẩm hiện nay dao động từ 200.000 – 250.000 đ/kg. Tính ra lợi nhuận từ nuôi chim trĩ cao gấp nhiều lần so với nuôi gà.

Kỹ Thuật Làm Chuồng Nuôi Chim Trĩ Đỏ, Chim Trĩ Xanh Thuần Chủng

1. Yêu cầu chung về chuồng trại: Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, thoáng mát, cách xa các trại nuôi gia súc, gia cầm khác nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro do lây nhiễm chồng chéo. Chuồng trại phải đảm bảo giữ ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Nền chuồng phải bằng phẳng, tiện cho công tác dọn vệ sinh, rải chất độn chuồng bằng phôi bào hoặc trấu có thể trộn với cát được phơi khô đã được phun khử trùng. Mặt khác phải đảm bảo thực hiện được biện pháp an toàn sinh học.

Hình ảnh chuồng nuôi chim thương phẩm ở quy mô lớn theo dạng thức thả vườn.

Lưu ý : Thường xuyên vệ sinh chuồng trại định kỳ 2- 3 lần/tuần. Phun thuốc khủ trùng định kỳ. Thường xuyên kiểm tra để loại bỏ các vật sắc, nhọn, sợi ninong trong khu vực nuôi đề phòng chim ăn phải sẽ dẫn đến tủng diều, chết. Trong thời gian qua trên các diễn đàn mạng và truyền hình có giới thiệu 1 số mô hình nuôi chim trĩ đạt hiệu quả cao, tuy nhiên cách thiết kế chuồng trại thường theo phương thức chia nhiều ô với kích thước rất nhỏ , môi ô chỉ nuôi từ 1 -4 cá thể (ghép bộ) . Cách làm này tuy hạn chế được việc chim đánh , mổ nhau nhau nhưng lại tốn kém rất nhiều trong khâu thiết kế chuồng trại, máng ăn cũng như công chăm sóc , Mô hình ghép cặp chỉ thích nghi với điều kiện nuôi kiểng, hoặc diện tích đất nhỏ .Tuỳ mục đích, quy mô sản xuất bà con có thể lựa chọn cách thiết kế chuồng trại sao cho phù hợp nhất với điều kiện sẵn có mà vẫn đảm bảo được yếu tố kỹ thuật trong việc quản lý và chăm sóc chim.

2. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi Trước khi đưa chim vào nuôi dù quy mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như: lồng úm, chụp sưởi, máng ăn, máng uống, chất độn chuồng, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi.

Mật độ nuôi và úm chim non trong chuồng nhỏ:

o Chim 0 – 30 ngày tuổi : 40 – 15 con /m2:

o 30 – 60 ngày tuổi : 12 – 6 con / m2

o 60 – 90 ngày tuổi : 4 – 2 con /m2

o Sau 90 ngày tuổi có thể đưa chim ra chuồng lớn với mật độ nuôi 1 – 2 con /m2

Lồng úm nuôi giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi: Lồng úm và dụng cụ chăn nuôi phải được cọ rửa sạch sẽ, để trống chuồng trước khi đưa chim vào nuôi 15 – 20 ngày và phải được xử lý theo đúng quy định về vệ sinh phòng dịch, tường, nền được quét nước vôi đặc nồng độ 40%. Sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút 2% (NaOH) với liều 1 lít/m2 hoặc bằng các loại thuốc sát trùng khác như Foocmol 3% phun 2 – 3 lần. Trước khi thả chim Trĩ vào nuôi 1 – 2 ngày phun tẩy uế lại bằng Formalin 3% và đóng kín cửa. Sau khi phun 5h mở cửa cho thông thoáng bay hết mùi thuốc sát trùng rồi mới thả chim. Nếu như chồng trại xây mới thì có thể chỉ dùng thuốc sát trùng Virkon®S của hãng Bayer: pha 100g với 10 lit nước, phun 300ml/m2, phun toàn bộ trại bao gồm nền, tường, bồn ăn uống, không khí, giày ủng. Hầu hết các kiểu úm gia cầm đều phù hợp cho việc úm chim Trĩ. Trong thời gian úm gột, để tập trung nguồn nhiệt tránh gió lùa sử dụng lồng úm.

Kích thước Lông úm nuôi: Chiều cao (H) 40 – 50 cm; Chiều dài (L) 1,0 – 1,2 m; Chiều rộng (W) 0,7 – 0,9 m. Xung quanh được đóng bằng gỗ ép hoặc cót ép, phía trên làm bằng lưới ô nhỏ để tránh chim bay, cửa lồng có thể nằm ở phía trên tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Lồng này dùng để úm chim non trong 28 – 30 ngày đầu, mỗi lồng như vậy có thể úm từ 50 – 80 chim.

Chuồng nuôi giai đoạn 5 – 12 tuần tuổi:

Giai đoạn này chim Trĩ được nuôi thả ra nền chuồng bê tông để rải trấu hoặc phôi bào với độ dày 5 – 8 cm, có khu đổ cát để chim tắm cát. Chim Trĩ được thả ra ngoài nhằm cho chim vận động, nhưng phải có lưới quây để cho chim khỏi bay đi. Bên ngoài lớp lưới của sân chơi có thể phủ lên những cành cây giúp cho môi trường sống giống với các điều kiện tự nhiên. Giai đoạn này một chim cần 0,5 m2 tổng diện tích sàn bên trong chuồng nuôi, và 2 m2 diện tích nền bên ngoài được dùng cho việc vận động. Sau quá trình ấp, chim trĩ có thể được nuôi khép kín, nhưng cần thiết phải có nơi cư trú đầy đủ. Sân chơi được rào kín bằng lưới để ngăn chim thoát ra ngoài.

Để ngặn chặn việc bay mất, kẹp lông cánh khi chúng 4 tuần tuổi hoặc cắt lông cánh ngay ban đầu. Chim trĩ rất dễ kích thích và bay rất tốt, vì vậy chúng nên được nhốt trong chuồng nuôi hoặc các bãi rào được bao bọc cẩn thận. Nếu chúng có thể thoát ra ngoài sau khi sợ hãi, chúng có thể bay rất xa và mất.

Giai đoạn sau 12 tuần tuổi: Ở giai đoạn này có thể đưa chim ra chuồng lớn với mật độ nuôi 1 – 2 con/m2. Nên chia chuồng thành nhiều ô khác nhau để tiện cho công tác quản lý và theo dõi bệnh tật cũng như quá trình sinh trưởng và phát triển của chim. Nếu tốn kém trong việc chia chuồng ra nhiều ô nhỏ thì có thể chọn phương án nuôi tập trung (quần thể). Tường vây có thể xây hoặc dùng lưới B40, lưới mắt cáo. Trên nóc sử dụng các loại tấm lợp Bro – ximăng hoặc vật liệu rẻ tiền sẵn có tại địa phương, miễn sao đảm bảo chim không thoát ra ngoài. Nền chuồng được dải một phần hoặc toàn bộ cát, sử dụng loại cát vàng, để chim tắm cát và làm ổ đẻ. Phần còn lại có thể sự dụng bằng nền betông, hoặc trồng cỏ trong khoảng sân chơi. Mái che có thể lợp toàn phần hoặc bán phần miễn sao đảm bảo thoáng về mùa hè, ấm về mùa đông. Với các địa phương khu vực phía bắc thường có rét đậm rét hại vào mùa đông, hoặc sương muối, nên che chắn cẩn thận toàn bộ chuồng nuôi bằng vải bạt và thắp điện sưởi để tránh rét cho chim. Với các tỉnh khu vực phía Nam và Tây Nguyên khí hậu nóng ấm quanh năm hạn chế phải che phủ chuồng trại hơn, tuy nhiên nên lưu ý đến các đợt mưa tạt, gió lùa vì đây là những thời điểm chim rễ mắc các bệnh về hô hấp, tiêu chảy, cầu trùng, tụ huyết trùng, thương hàn,…

Lưu ý: Thường xuyên vệ sinh chuồng trại định kỳ 2-3 lần/tuần. Phun thuốc khử trùngVirkon S định kỳ 1 lần/tuần, tăng cường khi có dịch hoặc khí hậu ẩm ướt. Thường xuyên kiểm tra để loại bỏ các vật sắc, nhọn, sợi nilon trong khu vực nuôi đề phòng chim ăn phải sẽ dẫn đến thủng diều, chết.

Làm chuồng cho chim lớn : Nên chia chuồng thành nhiều ô khác nhau để tiện cho công tác quản lý và theo dõi bệnh tật cũng như quá trình sinh trưởng và phát triển của chim : Nếu làm chuồng mới để nuôi chim sinh sản có thể thiết kế theo kích thước khung cơ bản sau: Cao (H) 2,5 – 2,8 m, Dài (L) 6 m, Rộng ngang (W): 3,5 m. Với diện tích ô chuồng này có thể nuôi được 20 -25 cá thể chim bố mẹ sinh sản, hoặc 30 – 40 cá thể chim hậu bị.

Lưu ý : Thường xuyên vệ sinh chuồng trại định kỳ 2- 3 lần/tuần . Phun thuốc khủ trùng định kỳ. Thường xuyên kiểm tra để loại bỏ các vật sắc , nhọn , sợi ninong trong khu vực nuôi đề phòng chim ăn phải sẽ dẫn đến tủng diều, chết.

3. Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh chuồng chim trĩ mẫu của các khách hàng đã được Hatthocvang Vietnam tư vấn và đang thực hiện rất thành công để bà con tham khảo như sau:

Hình ảnh chuồng nuôi chim sinh sản, chia thành các ô nhỏ để nuôi theo từng bộ (1 bộ = 4 con, 1 trống – 3 mái). Mỗi ô chuồng nên để 25% diện tích ngoài trời làm khu tắm cát và để cho chim đẻ trứng, 75% diện tích còn lại để cho chim ăn uống và nghỉ ngơi. Chuồng này được chia thành 03 modun, mỗi modun 12m2, mỗi modun có thể nuôi 6 – 9 bộ chim sinh sản. Khi chưa có điều kiện nuôi ở quy mô lớn và chưa có nhiều kinh nghiệm, bà con nên đầu tư theo dạng mô hình này để phát triển và gây giống sau đó mới tiếp tục phát triển ở quy mô lớn hơn.

Hình ảnh chuồng nuôi chim 3 – 4 tháng tuổi ~ 100 m2, khi chim lớn dần lên phải tách đàn để mật độ chim thưa hơn tránh việc đánh nhau hoặc mật độ quá dày ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của chim.

Hình ảnh chuồng nuôi chim trĩ hậu bị khá đơn giản, diện tích ~ 60 m2 vật liệu tận dụng toàn bộ tre nứa sẵn có.

Hình ảnh khu tắm cát và đẻ trứng giống của chuồng nuôi chim sinh sản ở quy mô lớn. Chuồng có Tổng diện tích ~ 100 m2.

Hình ảnh chuồng nuôi chim ở quy mô cấp trung ~ 120 m2 đặt cạnh hồ và tiết kiệm được công sức dọn vệ sinh. Chuồng tận dụng mặt hồ và cây que có sẵn tại địa phương nên rất hiệu quả kinh tế.

Hình ảnh chuồng nuôi quy mô nhỏ theo dạng thức nuôi chim cảnh.

Hình ảnh tham khảo của một trang trại chim trĩ nuôi ở quy mô hàng vạn cá thể tại Mỹ.

Hướng Dẫn Nuôi Chim Cảnh Sinh Sản Làm Giàu

Mô hình nuôi chim cảnh sinh sản làm giàu Cách nuôi chim trĩ làm giàu

– Chim trĩ được đánh giá là một giống chim mang lại hiệu quả nền kinh tế cao nhất trong tất cả các loại gia cầm, với hai thị trường tiêu thụ hiệu quả: cung cấp thương phẩm và con giống cho các trang trại.

– Một câu chuyện có thật từ nhân vật đã thành công với mô hình làm giàu bằng hình thức nuôi chim trĩ đó là anh Tuấn ngụ tại thành phố Cần Thơ bắt đầu với mô hình này vào năm 2024.

– Với các thông tin thông thường từ loài chim này bạn có thể áp dụng một số “tuyệt chiêu” này để tăng cao hiệu quả kinh tế:

+ Chuồng chim được xây dựng một cách thoáng mát và được rào lại bằng lưới B40, trên nên lợp mái tôn để hạn chế việc chim bay ra ngoài, nên đầu tư các hệ thống ống cấp nước sạch cho chim uống và máng ăn luôn được sạch sẽ hạn chế vi khuẩn gây bệnh. Mỗi tháng nên vệ sinh chuồng trại 2 lần, và nên sử dụng các chế phẩm vi sinh để “xứ lí” phân chim. Một yếu tố khác cũng quyết định đến hiệu quả kinh tế rất cao đó chính là vấn đề giao phối, bảo quản trứng và ấp trứng. Tỉ lệ ghép đôi để có thành công cao nhất với tỉ lệ là 1 trống 3 mái và được diễn ra trong một chuồng có diện tích 1.5 m2, được chia sẻ đây chính là tỉ lệ đẹp nhất để dẫn đến việc thành công 100%.

+ Khi trứng bắt đầu nở và nuôi được từ độ 3-4 tháng tuổi thì có thể xuất bán thịt và độ tuổi từ 6-7 tháng có thể cho sinh sản. Đặc điểm của loài này chỉ sinh sản theo mùa, được chia thành 2 đợt như sau: đợt đầu từ tháng 3-4, đợt hai là từ tháng 9-10. Mỗi đợt như thế chim mái có thể đẻ được số trứng lên đến 80 trứng, thế nhưng số trứng còn tùy thuộc vào kĩ thuật nuôi của chủ nữa và kể cả cách chăm sóc chúng.

+ Kĩ thuật để chim có thể đạt tỉ lệ nở cao nhất, các bạn nên dùng một ống nhiệt kế để bên dưới lườn trứng của con mái đang ấp, chỉ nên để thời gian là 15 phút thôi, sau đó cài đặt nhiệt độ của lò ấp bằng với nhiệt kế đã đo được.

+ Về thức ăn của chim trĩ chủ yếu là gạo, lúa, cám, thức ăn chế biến sẵn và có thể bổ sung thêm các loại rau xanh. Biện pháp cho ăn một cách hợp lí nhất là trong tháng đầu tiên và tháng thứ 2 là cám công nghiệp dành cho gà con. Thường xuyên kiểm tra chuồng trại nếu thấy chim trĩ ở gần bóng đèn tản ra hai bên thì chim bị nóng, cần phải kéo bóng đèn lên, nếu thời tiết lạnh quá thì hạ đèn xuống.

– Với cách tính cụ thể như sau: nếu bạn nuôi 100 con chim bố mẹ, và mục đích để bán giống. Gía chim trĩ được 1 tuổi là 35.000/con, chim được 1 tháng tuổi là 100.000/con, chim xanh bán kiểng là 1.2 triệu/cặp, chim đỏ là 1.5 triệu/cặp. Trừ tất cả các chi phí thì mỗi năm có thể thu về 200.000 triệu.

Chim chào mào nuôi làm giàu

– Chim chào mào là loài chim được ưa chuộng và nuôi rất nhiều, chim có giọng hót hay sống khỏe phù hợp với khí hậu nước ta. Chim chào mào trong tự nhiên đang bị thu hẹp môi trường sống vì vậy khả năng sinh sản giảm dần. Nhiều người nuôi tự cho chúng sinh sản tại nhà giúp duy trì nòi giống của chim chào mào.

– Chim chào mào có vẻ ngoài rất đặc trưng đó là mào đen rất nổi bật, má trắng, lưng màu nâu, bụng màu trắng, cái đuôi màu trắng có đầu dài. Con đực và cái bộ lông đều hệt như nhau trong khi với chim non là màu nhạt hơn hẳn. Chim chào mào trong tự nhiên thích ăn trái cây, một số loại côn trùng.

– Thời điểm sinh nở của Chào mào bắt đầu mùa xuân chủ yếu thời điểm tháng 1 và tháng 2. Đặc tính của chim chào mào là chung thủy, khi ghép đôi thì sống bên nhau gắn bó. Chào mào hay làm tổ ở cây có tán rộng, không cần rậm rạp, trung bình có độ cao từ 3m – 5m.

– Để chuẩn bị cho quá trình sinh sản của chim chào mào tại nhà bạn có thể chuẩn bị.

Chim bố mẹ: lựa chọn những con chim bố mẹ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, có giọng hót hay.Nếu bạn có thời gian hãy chọn chim bố mẹ từ nhiều nơi để phối với nhau sẽ tốt hơn nhiều.

Vị trí đặt chuồng: đặt chuồng đúng hướng giúp chim khỏe. Nên đặt chuồng ở nơi yên tĩnh, thoáng mát, tránh gió lùa vào mùa đông và không nên để ánh nắng trực tiếp vào chuồng.

Chuồng nuôi: để giúp chim bố mẹ sinh sản tốt cần biết làm chuồng nuôi, kích thước vào khoảng cao 1,2m; rộng 1,5m, sâu 1,5m. Bên trong chuồng có thể trang trí thêm cây cảnh, non bộ để chìm cảm giác như đang sinh sống trong môi trường thiên nhiên. Khung chuồng nên làm bằng ống thép hoặc gỗ, nhớ phải quây lại bằng lưới mắt nhỏ.

Thức ăn và dinh dưỡng: thường nuôi chim chào mào sinh sản nên chọn thức ăn tươi như côn trùng, sâu bọ, trái cây…, bổ sung thêm các thức ăn tổng hợp.

Cách kiểm tra trứng nở: bạn sẽ thấy những động thái khác thường của chim bố, chim bố thường bay nhảy xung quanh tố như lo lắng điều gì đó. Khi đó bạn hãy kiểm tra thử trứng nở hay chưa?

– Hiện nay việc săn bắt chim chào mào nhiều để phục vụ việc nuôi chim cảnh nên số lượng chim ngoài tự nhiên còn rất ít. Một số kinh nghiệm nuôi chim cảnh sinh sản làm giàu làm kinh nghiệm quan trọng trước khi bạn tiến hành nuôi chim duy trì nòi giống.

Bài viêt về hướng dẫn cách nuôi chim cảnh làm giàu mà đặc biệt hai loài chim được nhắc đến trong bài này là chim trĩ và chim chào mào thì có thể giúp ích cho bạn phần nào về thao tác tìm kiếm và thu nhận thông tin một cách ngắn ngọn đơn giản lại hiệu quả nhất cho công việc nuôi chim mà bạn đang theo đuổi.

Kỹ Thuật Nuôi Chim Công Sinh Sản

Chim Công là loài chim có bộ lông đẹp nhất trong tất cả các loài chim và được sếp là 1 trong 10 loài chim đẹp nhất hành tinh . Tại Việt Nam chim công là loài chim quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam ( Nhóm 1B ) .

Trước đây chim công phân bố ở hầu hết các cánh rừng trên cả nước . Ngày nay do việc săn bắn , tàn phá rừng , Chim Công còn lại trong tự nhiên với số lượng rất hạn chế .Chủ yếu mọi người chỉ còn nhìn thấy trong các trung tâm bảo tồn quốc gia, Vườn thú Hà Nội , thảo Cẩm Viên Sài Gòn vvv )

Do chim công là loài chim đẹp và quý hiếm nên nhu cầu chơi , nuôi loài này làm cảnh trong 1 số hộ gia đình có điều kiện kinh tế , các khu vina , nhà vườn , khu du lịch sinh thái ngày càng tăng . Nguồn cung cấp hiện nay chủ yếu vẫn là nguồn cung bất hợp pháp ( do săn bắt , nhập lậu , một số cá nhân nuôi sinh sản đơn lẻ không đựợc cấp phép .vv)

Để đáp ứng nhu cầu về con giống cho thị trường một cách ổn định và hợp pháp .Việc thành lập trại nuôi sinh sản loài chim trên là rất cần thiết . Nó không chỉ đem lại giá trị kinh tế ( từ việc bán con giống ) . Mà còn góp phần tích cực vào công tác bảo tồn nguồn gen về loài chim – gà quý hiếm này .

Qua nghiên cứu nuôi thực nghiệm : Anh Trần Nhữ Giáp ( nhà điểu học ) một người chuyên nghiên cứu về các giống chim , gà quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới đã đưa ra những kết quả rất khả quan về việc nuôi sinh sản theo mô hình công nghiệp loài chim này . :

. Hiện nay có 2 loài công được nuôi phổ biến tại Việt Nam ( Công Lục – hay công Má Vàng ) Và Công Lam ( công Ấn Độ : Công xanh , Công trắng )

Về cách nuôi hai loài công này cơ bản không khác nhau . Công Ấn Độ được du nhập từ Ấn Độ vào Việt Nam từ nhiều năm trước , đến nay đã thích nghi tốt với điều kiện môi trường khí hậu tại Việt Nam .

2 ) Một số đặc điểm cơ thể

Khi chim trưởng thành ( chim trống ) chiều dài cơ thể có thể đạt tới 2,1 m .Trong đó bộ đuôi có thế tới 1,5m (ở thời kỳ 3 – 5 năm tuổi) . Trọng lượng có thể đạt từ 8 – 12 kg / con . Chim trống thường có biểu hiện xoè đuôi ( múa ) vào thời kỳ đầu của chu kỳ sinh sản ( tháng 12 âm lich . Kéo dài cho đến hết chu kỳ đẻ trứng của chim mái ( tháng 6 âm lịch )

. Đây là thời gian mà người nuôi chim công sẽ được ngắm vẻ đẹp hoàn mỹ nhất của loài chim này ( từ cử chỉ , hành động , sắc lông ) . Sau đó Chim Công bắt đầu có hiện tượng rụng đuôi và thay lớp lông mới cho mùa sinh sản tiếp theo .

Với Chim mái , trọng lượng , chiều dài cơ thể nhỏ hơn , màu lông cũng không sặc sỡ và đẹp như chim trống

Cách phân biệt chim trống và chim mái :

Phân biệt chim trống và chim mái dựa vào 1 số đặc điểm sau : Sắc tố lông . chiều dài đuôi , màu da chân , chiều cao của chân , Chiều cao cổ , Số lông chính dựng trên mào . Hoặc dựa vào cách so sánh trọng lượng , kích thước chiều dài cơ thể .

Cách phân biệt rõ nhất là khi chim ở độ tuổi từ 18 tháng tuổi trở lên . Lúc này chim trống có biểu hiện rõ nhất về sự thay đổi ngoại hình ,

Khi chim còn nhỏ ở độ tuổi từ 1 – 5 tháng tuổi rất khó phân biệt trống , mái .Trừ 1 số ít người có kinh nghiệm nuôi lâu năm và nghiên cứu chuyên sâu về chim công mới có thể phân biệt được dựa vào những kinh nghiệm sẵn có và cảm quan nghề nghiệp .

Chim công rất thông minh , rạn người , nếu nuôi thuần và chăm sóc chim từ nhỏ, chim công có thể thả ra mà không bay mất . Tuy nhiên trong điều kiện nuôi sinh sản tập chung theo mô hình công nghiệp chim công vẫn được nuôi trong lồng lớn để tiện theo dõi và quản lý .Tránh các rủi ro có thể sảy ra : mất trộm , bị các loài khác đuổi bắt dẫn đến hiện tượng chim hoảng loạn và bay đi .

3 ) Kỹ thuật làm chuồng trại :

Các vật liệu làm chuồng nuôi Chim Công khá đơn giản chủ yếu được dùng : Lưới mắt cáo ( lưới thép B40 ) quây sung quanh , lưới cước ( làm phần lợp trên lóc ). Một số vật liệu làm mái che khác ( Tấm lợp Proxi mămh . Tâm lợp nhựa ) . Hoặc có thể tận dụng các nhà xưởng , kho có sẵn sau đó cải tạo lại . Nền chuồng thường được dải cát ( loại cát Vàng ) . Để tiện làm công tác vệ sinh , đảm bảo khô , thoáng , hạn chế các loài giun sán ,. Nền cát cũng sẽ đảm bảo cho lông đuôi công không bị dính bẩn mỗi khi di chuyển , đồng thời là chỗ để cho công tắm cát ( tắm nắng ) làm sạch bộ lông .

Với quy trình nuôi công nghiệp : Một ô chuồng tiêu chuẩn đươc thiết kế như sau :

Rộng ngang : 3 ,5 – 4m . Dài 5 – 6 m , Cao 2,7 – 3m . Với diện tích này có thể nuôi từ 4 – 6 cá thể chim trưởng thành ( tỉ lệ 1 đực + 1 cái , hoặc 1 đực + 2 cái ) .Hoặc có thể nuôi được : 10 – 15 cá thể chim công ( 6 – 12 tháng tuổi ) .

Tuỳ thuộc vào điều kiện thực tại của trại nuôi có thể thiết kế theo các kích thước rộng , hẹp ngang khác nhau . Miễn sao đảm bảo các yếu tố : Thoáng về mùa hạ , ấm về mùa đông .

Chim Công trong tự nhiên có sức đề kháng tốt có thể chịu được mưa tạt , gió lùa .Tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhân tạo ta nên làm một phần mái che để chim chú ẩn sẽ tốt hơn

Về phần lóc chuồng nuôi có thể lập toàn phần ( trong nhà xưởng ) . Hoặc lập bán phần để đảm bảo cho chim có chỗ chú ấn khi mưa tạt , gió lùa ,.thời tiết thay đổi .vv .

Chim được đánh mã số ( vòng chân ) để tiện theo dõi , tránh hiện trạng đồng huyết )

… Có thể làm nhiều ô chuồng sát nhau ( sử dụng vách ngăn : lưới thép B40 ) .

* Chú ý : không sử dụng vách ngăn bằng luới thép nhỏ , hoặc cuớc li lông vì chim sẽ mổ loại vật liệu này để ăn , dẫn đến hiện tượng tủng , thắt riều

Nên có 1 ô chuồng nuôi ( chuồng phụ ) đẻ tách riêng những cá thể chim bị bênh cho tiện công tác theo dõi , điều trị

4 ) Kỹ Thuật ấp nở

Chim Công sau 2 năm nuôi là đạt đến độ tuổi trưởng thành và bắt đầu có khả năng sinh sản . Tuy nhiên phải từ năm thứ 3 ,. thứ 4 trở đi khả năng sinh sản của chim mới ổn định và cho tỉ lệ ấp nở tốt hơn cả ,

Chim mái bắt đầu đẻ từ đầu mùa xuân đến cuối mùa hạ . Số trứng bình quân :

Công Má Vàng ( 8 – 12 trứng / năm )

Công Ấn Độ ( 25 – 35 trứng / năm )

Thời gian ấp ở trung bình : 26 – 27 ngày

Có 3 cách ấp nở cơ bản : + Để chim mái tự ấp ( tỉ lệ thành công : 40 – 50 % )

+ Dùng chim , gà khác ấp ( gà mái , Ngỗng , Ngan vv ) . Tỉ lệ thành công : ( 50 -60 % )

+ Sự dụng máy ấp :

Cách tốt nhất và cho tỉ lệ ấp nở thành công cao nhất hiện nay là dùng máy ấp công nghiệp ( dùng cho việc ấp trứng gà , trứng vịt ) . Nếu đảm bảo được chất lượng phôi trứng tốt , thực hiện đúng quy trình kỹ thuật có thể đạt 85 %

Vườn Chim Việt đã nghiên cứu thực nghiệm ấp nở Chim công tại Việt Nam cho thấy cách duy trì nhiệt độ ấp nở ổn định tốt nhất như sau :

Trứng sau khi đẻ bảo quản nơi thoáng mát .

Thơì gian chờ để cho vào lò ấp tối đa :

Từ ( 7 – 10ngày ) Với trứng đầu vụ

Từ (3 – 5 ngày ) Với trứng đẻ trung , cuối vụ

* Nhiệt độ ấp :

Từ 1- 7 ngày đầu : Nhiệt độ lò ấp duy trì : 37 – 38,2 C

Từ 7 – 15 ngày : 36,5 – 37 độ C

Từ ngày thứ 15 – 20 : Nhiệt độ : 36,2 – 36 ,5 độ C

Từ ngày 20 – 27 : Nhiệt độ ổn định ở : 36, 2 Độ C

Độ ẩm : 60 – 70% . Có thể điều chỉnh độ ẩm tuỳ theo thời kỳ ấp nở ( Giảm độ ẩm với trứng đầu , giữa vụ , tăng độ ẩm với trứng cuối vụ )

5 ) Chăm sóc chim qua các thời kỳ sinh trưởng .

Chim Công là loại ăn tạp : thức ăn chủ yếu : thóc , ngô , kết hợp với cám tổng hợp dung cho gia cầm .Ngoài ra cho ăn thêm rau xanh .

Sử dụng loại máng ăn , uống dùng cho nuôi gà , vịt để đựng thức ăn , nước uống cho

chim . Thay nước định kỳ 1 lần / ngày ( nếu không có hệ thống uống tự động ) . Thường xuyên vệ sinh máng ăn , uống để trách mầm bệnh gây hại choc him ,

Chim non sau khi lấy từ lò ấp ra được nuôi trong chuồng nhỏ . Nền chuồng được lót giấy báo , hoặc xốp Khi chim mới nở ra duy trì nhiệt độ chuồng nuôi ổn định : 25 – 30 độ C . Khi chim đựợc 20 – 30 ngày tuổi giảm nhiệt độ xuống 24 – 26 độ C.

Sau 30 ngày tuổi ổn định nhiệt độ ở 18 – 20 độ C .Lúc này có thể sử dụng loại chuồng lớn hơn , nền chuồng có thể sủ dụng lưới mắt cáo nhỏ

Chim công mới nở ra có khả năng tự ăn như gà con ,thức ăn sử dụng 100% cám tổng hợp dùng cho gà

Sau 30 ngày tuổi có thể cho ăn kết hợp thêm với ngô , thóc nghiền ( Tỉ lệ cám tổng hợp 70 % ,thực phẩm bổ sung : 30 % ). Sử dụng các loại rau xanh thái nhỏ ( rau muống , rau cải , rau ngót vv )

Khi chim càng lớn tỉ lệ cám tổng hợp sẽ điều chỉnh theo xu hướng giảm dần : Đến khi chim đạt từ 6 – 8 tháng tuổi có thể nuôi ngoài chuồng lớn với nền chuồng bằng cát như đã thiết kế ở mục 3 ) .Lúc này tỉ lệ cám tổng hợp bổ xung chỉ còn khoảng 50 % là hợp lý . Không nên cho ăn quá nhiều cám tổng hợp chim sẽ mất dần sức đề kháng tự nhiên , đồng thời giảm sắc tố bóng đẹp của màu lông .

Đến khi chim đạt độ tuổi trưởng thành dùng cám tổng hợp của gia cầm ( Cám dùng cho gà đẻ ) . Kết hợp với thực phẩm bổ xung : Ngô , thóc nguyên hạt . Tăng cường các loại rau xanh , cho ăn thường xuyên để chim tăng sức đề kháng cũng như có bộ lông đẹp nhất

.

6 ) Các bệnh thường gặp , cách phòng , trị bênh cho Chim Công :

Khi chim non nở ra người nuôi sử dụng một số kháng sinh để phòng trị bệnh cho chim giống như việc phòng, trị bệnh cho gà con

Ví dụ – Từ 1 đến 2 tuần tuổi ngừa bằng : Streptomcin

– Từ 3 – 5 tuần tuổi ngừa bằng : pox Fowl .vv

( cho uống trực tiếp , hoà thức ăn , nước uống , chủng ngừa . vv ,theo tỉ lệ ghi trên bao bì )

Các bệnh thường gặp khi nuôi Chim Công :

+ Bệnh do nhiễm khuẩn đường ruột : ( phân xanh , phân trấng vv ) . Bênh do nhiễm khuẩn ECOLY

+ Bệnh tụ huyết trùng , xã cánh , sù lông , teo chân

+ Bệnh sưng mặt , phù đầu

+ Bềnh về đường hô hấp ( Sưng phổi , thở khò khè )

+ Bệnh do kí sinh ngoài da ( ghẻ ,) : Sử dụng thuốc đặc trị ghẻ của chó , mèo phun trực tiếp lên chim ( tránh phần mắt )

+ Bệnh giun , sán ở Mắt dẫn đến hiện tượng mù mặt ( trích ngừa bằng kháng sinh đặc trị )

* Để tránh dủi do trong quá trình nuôi .Người nuôi nên tiêm phòng cho chim các loại vácin cho gia cầm theo định kỳ mùa , hoặc theo độ tuổi ( ví dụ GUM , H5N1 ) vv

Về cơ bản cách phòng , trị bệnh cho Chim Công giống như việc phòng và trị bệnh cho gia cầm .Hoàn toàn có thể sử dụng các loại thuốc kháng sinh của gia cầm đang bán tạị các tiệm thuốc thú y để để điều trị cho chim theo chỉ dẫn ghi trên bao bì .Hoặc sử dụng liều lượng trị = 1,5 – 2 lần liều lượng phòng

( lưu ý nên mua thuốc của những nhà sản xuất , có uy tín trên thị trường để tránh mua nhầm hàng giả kém chất lượng ). Hiện Vườn Chim Việt đang sử dụng thuốc chủ yếu do TW 1 sản xuất và phân phối

.Một lợi thế trong công tác phòng và trị bệnh là do Chim Công có bản chất là động vật hoang dã ,nên khi nuôi ít gặp bệnh và cách điều trị cũng đơn giản hơn

Trong quá trình nuôi nên chú ý đến việc vệ sinh truồng trại , phun thuốc khử trùng định kỳ tại chuồng nuôi và khu vực phụ cận . Theo dõi diễn biến của thời tiết để có biện pháp bảo vệ chuồng nuôi tốt nhất

6 ) Về Giá Trị Kinh tế :

Do chim công hiện nay chủ yếu được nuôi làm cảnh , đối tượng nuôi là những hộ gia đình , các trang trại , khu vina nhà vườn .Đối tượng khách hàng là những người có thu nhập cao ,kinh tế ổn định . Ngoài ra chim công chủ yếu phục vụ cho các khu du lịch sinh thái , trung tâm bảo tồn . vv

Do nguồn cung trên thị trường Việt Nam còn rất hạn chế , vì vậy giá thành của loài chim này khá ổn định và ở mức cao

Giá thị trường năm 2009 ( theo khảo sát của Vườn Chim Việt )

Chim Công loại

+ 2 – 3 tháng tuổi : 3 triệu vnđ / cặp

+ 4 -6 tháng tuổi : 4 triệu vnđ / cặp

+ 7 – 9 tháng tuổi : 6 triệu vnđ / cặp

Loại trưởng thành đang đẻ : 15 – 20 triệu vnđ / cặp

Với khả năng sinh sản tốt , tỉ lệ ấp nở thành công khá cao .Bình quân 1 chim mái mỗi năm có thể thu về từ 20 – 30 triệu vnđ từ việc bán con giống

Chi phí thức ăn , thú y , nhân công , khấu hao chuồng trại không đáng kể ,rủi ro thấp , giá thành ổn định và có xu hướng tăng trong những năm tới . Không bị cạnh tranh bởi nguồn cung thị trường vì đây là mô hình hoàn toàn mới ở Việt Nam

Kết luận : Nuôi Chim Công không chỉ là một nghề mới mang lại giá trị kinh tế cao ( vào loại siêu lợi nhuận trong các loài vật nuôi hiện nay của Việt Nam ) . Bên cạnh đó còn góp phần tích cực vào công tác bảo tồn nguồn gen loài chim , gà quý hiếm nói riêng , động vật hoang dã , động vật quý hiếm nói chung ,

.

Tài liệu trên đươc trích tóm tắt từ mục 3 chương V ) . Trong đè tài nghiên cứu khoa học về kỹ thuật nuôi sinh sản các loài chim gà quý hiếm ,

Cuốn sách gồm 560 trang giới thiệu về kỹ thuật , quy trình nuôi sinh trưởng , sinh sản , thuần hoá của 50 loài chim , gà quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới

dự kiến sẽ được phát hành ra thị trường vào tháng 11 năm 2010

Tác giả :Trần Nhữ Giáp

​ Cơ sở 1 : Xã Nhân Thịnh _ Huyện Lý Nhân – Tỉnh Hà Nam Cơ sở 2:Thôn 1B- Xã Đông Mỹ-Thanh Trì- Hà Nội Liên hệ mua hàng : Tại Hà Nội : Thôn 1B-Xã Đông Mỹ-Thanh Trì -Hà Nội Mobile : 0977774677 hoặc 0942712345 Hoặc 0948833556http://vuonchimviet.com Emai :[email protected]

Làm Giàu Nhờ Nuôi Chim Cu Gáy Sinh Sản

Theo chỉ dẫn của cán bộ xã An Khánh, chúng tôi tìm về gia đình ông Lĩnh “cu gáy”. Ông Lĩnh bắt đầu câu chuyện làm giàu của mình bằng việc dẫn chúng tôi ra thăm khu nuôi cu gáy, chỉ rõ đặc tính từng con một. Ông kể: Năm 2001, tôi bắt đầu nuôi chim cu gáy như một thú vui tao nhã. Sau những lần tham gia Hội thi chim tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, tôi nhận thấy nhu cầu nuôi chim cu gáy cảnh đang được nhiều người ưa chuộng nên bắt tay vào làm luôn. Theo ông Lĩnh: “Cu gáy là loài chim có nguồn gốc hoang dã, ai cũng có thể nuôi được. Ngoài ra, chuồng nuôi chim cũng khá đơn sơ, chỉ cần dùng lưới sắt vây thành những ngăn nhỏ, mỗi ngăn nuôi một đôi, bên trong tạo ổ bằng rơm, rạ hoặc chất xơ từ cây cối để làm chỗ cho chim mẹ đẻ.”

Thông thường, bình quân mỗi năm một đôi chim đẻ 3 – 4 lứa, mỗi lứa 2 quả trứng. Hiện gia đình ông Lĩnh có khoảng 200 đôi chim bố mẹ chuyên sinh sản. Trong đó có khoảng 70% tự đẻ và ấp, còn lại khoảng 30% việc ấp trứng phải nhờ giống chim cu gáy của Nhật. Hiện, mỗi con chim cu gáy ta sau khi nở từ 15 – 20 ngày, biết mổ, có giá bán từ 250 nghìn đồng trở lên, chim trưởng thành có giá khoảng 700 – 800 đồng/con. Với 200 cặp chim bố mẹ, gia đình ông Linh thu lãi khoảng 200 triệu đồng. Ngoài ra, ông còn có thêm thu nhập từ những con chim đẹp, hót hay, thậm chí có con ông bán với giá trên 20 triệu đồng. Theo ông nuôi chim cu gáy sinh sản, khó nhất là lúc ghép đôi, vì khi bắt đầu vào thời kỳ làm tổ, chúng thường xuyên đánh nhau, nhưng nếu chịu khó quan sát và để ý thì việc ghép đôi vẫn thành công. Thông thường, sau khi nuôi khoảng 7 tháng, chim cu gáy ta bắt đầu đẻ trứng, nếu được chăm sóc tốt thì chúng sinh sản gần như quanh năm.

Tiếng lành đồn xa, nhiều người thấy mô hình nuôi chim cu gáy của ông Lĩnh cho hiệu quả kinh tế cao đã tìm đến mua con giống, học hỏi kinh nghiệm. Giờ đây, ông đã trở thành nhà cung cấp chim giống cho những người sành chơi chim cu gáy cảnh ở các tỉnh: Hải Phòng, Nam Định, Bắc Giang, Bắc ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc… Với mức thu nhập ổn định từ nuôi chim cu gáy sinh sản đem lại, mô hình kinh tế của ông Lĩnh là một hướng đi mới, rất có tiềm năng để phát triển.

Kỹ Thuật Nuôi Dê Sinh Sản

Dê đang nuôi ở Quảng Trị hiện có 3 giống chính: Dê địa phương (dê cỏ), dê Bách thảo và dê Alpine.

Là dê lâu đời tại địa phương, có màu lông pha tạp không thuần nhất, đa số màu nâu hoặc đen loang trắng, tai nhỏ, không cụp. Dê đực và dê cái đều có râu và sừng. Dê cỏ nuôi chủ yếu để lấy thịt với đặc điểm:

Khả năng sinh trưởng chậm, tầm vóc nhỏ bé:

– Khối lượng trưởng thành: Con cái: 25 – 32 kg/con; Con đực: 35 – 37 kg/con.

– Tỷ lệ thịt xẻ đạt: 39 – 41%

Tuổi phối giống lần đầu là: 6 – 7 tháng tuổi đẻ 1,4 lứa/năm (2 năm 3 lứa) tỷ lệ đẻ 1 con /lứa là 70% ; 2 con/lứa là 25%; 3 con/lứa là 5% (1,3 con/lứa ).

Dê Bách Thảo là dê kiêm dụng sữa thịt. Màu lông tương đối đồng nhất là màu lông đen loang sọc trắng, tai to, cụp, không có râu cằm, phần lớn không có sừng.

Khối lượng trưởng thành: Dê cái: 40 – 45 kg/con; Dê đực: 75 – 80 kg/con; Sơ sinh: 2,6 – 2,8 kg/con. Tỷ lệ thịt xẻ đạt: 42 – 44 %.

Khả năng sinh sản tương đối tốt. Tuổi phối giống lần đầu: 7 – 8 tháng; Số con bình quân: 1,7 con/ lứa. Số lứa đẻ bình quân 1,8 lứa / năm.

Dê hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn hoặc kết hợp nuôi thả ở các vùng ở Quảng Trị đều cho kết quả tốt.

Là giống dê sữa của Pháp được Trung tâm khuyến nông khuyến lâm Tỉnh nhập về năm 2002, nuôi tại Cam Lộ. Dê có màu lông chủ yếu là màu vàng, đôi khi đốm trắng. Khối lượng trưởng thành: con cái đạt 40 – 42 kg/con. Con đực: 50 – 55 kg/con.

II. PHƯƠNG PHÁP CẢI TẠO ĐÀN DÊ

Xuất phát từ những nhược điểm của dê cỏ nên ta dùng dê Bách Thảo để cải tạo, cải tiến năng suất, chất lượng dàn dê cỏ địa phương.

Phương pháp cải tạo là dùng đực giống dê Bách Thảo cho nhảy trực tiếp với dê cái địa phương tạo ra con lai F1 có năng suất, chất lượng cao hơn hẳn dê địa phương. Phương pháp này đơn giản, rẻ tiền, dễ làm và có thể áp dụng được tất cả mọi nơi kể cả vùng sâu vùng xa.

Dê lai F1 có đặc điểm:

– Khối lượng sơ sinh: cao hơn 20% so với dê cỏ.

– Khối lượng 30 ngày tuổi đạt: 9 – 11 kg/ con, cao hơn 2,5 – 3 kg/con so với dê cỏ cùng tuổi.

– Khối lượng 60 ngày tuổi đạt: 16 – 17 kg/con tăng hơn 40% so với dê cỏ.

III. KỸ THUẬT CHĂN NUÔI DÊ

– Chọn dê con: Dê con phải có khối lượng sơ sinh 1,8 – 2 kg/con (con cái), và 2,3 kg/con (con đực). Lúc cai sữa đạt khối lượng 6,5-7,5 kg/con trở lên thì chọn làm hậu bị. Các dê được chọn phải từ các lứa đẻ sinh đôi trở lên của các dê mẹ đẻ từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 8. Bố mẹ chúng là dê đực ở độ tuổi 2 đến 5 năm.

– Chọn dê cái: Là con của dê mẹ cho nhiều sữa, dê con mau lớn, ngoại hình thanh mảnh; đầu nhỏ nhẹ; mình dài, phần sau phát triển hơn phần trước; da mỏng, lông mịn; bầu vú to, mềm mại, đều.

– Chọn dê đực giống: Dê đực khoẻ mạnh, hăng hái, không khuyết tật; đầu to, ngắn, trán rộng; thân hình cân đối, không quá béo, hoặc gầy. Phần thân sau chắc chắn, bắp nở đều, bốn chân chắc khoẻ, 2 hòn cà đều và cân đối. Dê đực phải là dê của con mẹ cho nhiều sữa, dê con tăng trọng nhanh, khả năng chống bệnh tốt. Dê đực 6 tháng tuổi không đạt 15 kg trở lên không sử dụng làm giống.

2. Phối giống: Tuổi bắt đầu phối giống của dê cái là 7 – 8 tháng tuổi, dê đực 5 – 6 tháng tuổi. Khi bắt đầu phối giống dê cái phải đạt khối lượng 17 – 18 kg, dê đực phải đạt khối lượng 15 – 16 kg.

– Tỷ lệ đực/cái thích hợp là: 1/20 – 1/25.

– Những dê cái có ngoại hình, thể chất và khối lượng đạt yêu cầu thì phải theo dõi sát các kỳ động dục để phối giống kịp thời.

– Thời điểm phối giống thích hợp là 24 giờ kể từ sau khi dê cái có biểu hiện động dục.

– Không cho giao phối đồng huyết và không cho dê đực non phối với dê cái già.

– Dê cái trên 7 năm tuổi và dê đực trên 8 năm tuổi cần được loại thải.

Dê là loại ăn tạp, nguồn thức ăn chính là cỏ và các loại lá cây. Dê có thể ăn các loại lá cây mà trâu, bò không ăn được. Nhưng dê không thích ăn các loại cỏ và lá cây bị ướt, nên khi chăn thường phải thả dê vào khoảng 9 – 10 giờ sáng.

Ngoài chăn thả dê ở bãi chăn thì nên cho dê ăn thêm cỏ ở chuồng 2 – 3 kg/con.

Có thể trồng một số cây họ đậu và một số giống cỏ làm thức ăn cho dê như:

+ Cỏ hoà thảo: Cỏ Voi, cỏ Lông Pa Ra

+ Cây họ đậu: Keo dậu, điền thanh…

+ Các cây khác: cây mía, cây mít, cây sung…

Thời gian qua Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư tỉnh đã nhập về các loại cây, cỏ, dùng làm thức ăn cho dê rất tốt như: cây chè Khỗng Lồ, đậu Sơn Tây và cỏ Voi. Các loại cây này cho năng suất cao, dinh dưỡng cao, trồng để làm thức ăn bổ sung cho dê đều rất tốt.

– Thức ăn hỗn hợp: Gồm các loại cám gạo, ngô, bột sắn… tuỳ theo lứa tuổi, khả năng sinh sản và tiết sữa cho dê mà ăn từ 0,2 – 0,8 kg/con/ ngày.

– Có thể bổ sung một lượng muối ăn và khoáng đa vi lượng dưới dạng đã chế biến để dê sử dụng tuỳ thích.

– Tuyệt đối tránh thức ăn chua, hôi, mốc, ướt. Hàng ngày cho dê ăn no, đủ các chất dinh dưỡng. Nếu thiếu hụt khẩu phần, dê sinh trưởng kém, thành thục chậm, giảm thể trọng, giảm sản lượng sữa, sinh sản kém, dê gầy dễ bị sinh bệnh.

– Dê thích ăn ở độ cao do vậy cần treo máng thức ăn lên cao cách mặt đất 0,4-0,5 m, cây lá cho ăn thêm cũng nên treo cao để Dê dễ ăn.

Làm chuồng trại nơi cao ráo, thoát nước, ở cuối hướng gió đảm bảo đông ấm hè mát.

– Phải làm chuồng sàn, cách mặt đất 50 – 80 cm.

– Vật liệu làm chuồng đơn giản, bằng gỗ, tre, nứa, lá…

– Sàn chuồng làm bằng thanh tre, gỗ, nứa thẳng, nhẵn, bản rộng 2,5 cm; cách nhau 1,5 cm đủ lọt phân và tránh cho dê không bị lọt chân.

– Chuồng nên có ngăn riêng cho dê đực giống, dê hậu bị, dê chữa gần đẻ, dê mẹ và dê con dưới 3 tuần tuổi và các loại dê khác.

– Có sân chơi cao ráo, không đọng nước, định kỳ lấy phân ra khỏi chuồng và vệ sinh tẩy uế chuồng trại bằng vôi bột 1 tháng 1 lần.

– Diện tích chuồng nuôi: Phải bảo đảm:

+ Dê trên 6 tháng tuổi: 0,7 – 1 m2 /con

+ Dê dưới 6 tháng tuổi: 0,3 – 0,5 m2 /con.

5. Các biện pháp chăm sóc dê sinh sản:

– Dê chữa: 150 ngày (dao động trong vòng 146 – 157 ngày) trong thời gian chữa cần chăn thả dê gần chuồng, nơi bằng phẳng, tránh đuổi đánh đập. Tách xa dê đực giống để tránh nhảy dê chữa, dễ gây sẩy thai.

– Trước khi đẻ 5 – 10 ngày nhốt riêng dê chữa. Dê sắp đẻ, bầu vú căng sữa, dịch nhờn chảy ở âm hộ, sụp mông. Cho cỏ khô, sạch vào lót ổ và chuẩn bị đỡ đẻ cho dê.

– Sau khi dê đẻ cần lấy khăn mềm, sạch, lau khô lớp màng nhầy ở mồm, mủi để tránh ngạt thở cho dê con.

– Thắt cuống rốn bằng chỉ cách bụng 1cm rồi cắt ngoài chỗ thắt và sát trùng bằng cồn Iod. (I ốt) .

– Sau khi đẻ 30 phút cho dê bú sữa đầu ngay nhằm tăng cường sức khoẻ và sức đề kháng của dê con.

– Không cho dê mẹ ăn nhau thai, cho dê mẹ uống nước muối 0,5% hoặc nước đường 10%.

– Để dê con nằm ở ổ ấm, nuôi nhốt dê mẹ và dê con 3 – 4 ngày, cho ăn tại chuồng, sau đó chăn thả gần nhà.

– Từ ngày thứ 4 đến ngày 21. Nuôi dê con trong cũi (ô riêng) đảm bảo ấm áp, khô sạch, cho bú ngày 3 – 4 lần. Khi 10 ngày tuổi tập cho dê con ăn thức ăn dễ tiêu, cỏ non sạch và khô ráo.

– Không chăn thả dê con trước 21 ngày tuổi và dê mẹ sau khi đẻ 7 – 10 ngày

– Đến 21 – 30 ngày tuổi cho dê con chăn thả theo đàn.

– Dê con sau 3 tháng tuổi tách riêng dê đực, cái và phân đàn theo hướng sản xuất.

Chăm sóc nuôi dưỡng dê cái sinh sản

– Đối với dê cái nên cho phối giống lần đầu khi dê đạt tuổi và trọng lượng tối thiểu cần thiết như dê Bách Thảo thường phải 7-9 tháng tuổi khối lượng phải đạt 19-20kg. Trong thực tế sản xuất áp dụng bằng cách bỏ qua 2 lần dộng dục đầu tiên của dê cái sau đó mới phối giống. Đối với dê cái đang sinh sản, thường sau khi đẻ 1,5-2 tháng dê đã phục hồi sức khoẻ mới cho phối giống lại

– Tuyệt đối không cho dê đực giống phối với dê cái có quan hệ là anh chị em ruột hoặc là con cháu của dê đực giống đó.

– Chu kỳ động dục của dê là 19-21 ngày, động dục kéo dài 1-3 ngày, khi động dục âm hộ hơi sưng đỏ hồng, chảy dịch nhờn, kêu la bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác, nếu đang tiết sữa thì giảm sữa đột ngột. Sau khi phát hiện được triệu chứng dê động dục bằng cách quan sát theo dõi hoặc sử dụng đực đeo bao dương vật phát hiện thì sau 18-36 giờ cho dê giao phối là thích hợp. Trong sản xuất thường khi phát hiện dê động dục ngày hôm nay thì sáng sớm hôm sau cho giao phối 2 lần vào buổi sáng và chiều là phù hợp.

– Phải có sổ theo dõi phối giống để ghi chép ngày phối, kết quả phối giống và dự định ngày dê đẻ để đỡ đẻ cho dê.

Sau khi phối giống theo dõi nếu đến chu kỳ động dục bình thường (21 -23 ngày) mà không thấy dê động dục trở lại là có thể dê đã thụ thai. Thời gian mang thai của dê trung bình là 150 ngày (biến động từ 145- 157 ngày) vì vậy phải chuẩn bị đỡ đẻ cho dê trước 140 ngày.

Khi dê có chửa, nhu cầu dinh dưỡng của dê tăng dần lên đặc biệt ở 2 tháng cuối cùng dê cái chịu kiếm ăn hơn, phàm ăn hơn bình thường, biểu hiện ở thể trạng bên ngoài là lông mượt và tăng cân. Cần đáp ứng đủ số lượng và chất lượng thức ăn để dê nuôi thai tốt và có nhiều sữa sau khi sinh.

Đối với dê đang cho sữa, thì tuổi thai càng lớn, lượng sữa của dê mẹ khai thác càng giảm để bào thai phát triển tốt và tránh được sản lượng sữa giảm ở các chu kỳ sau.

* Chú ý: Cho dê cạn sữa từ từ bằng cách giảm dần số lần vắt sữa như ngày 1 lần, rồi 2 ngày 1 lần, 3 ngày 1 lần và cắt hẳn..

Không chăn dê quá xa chuồng và tránh dồn đuổi, đánh đập dê, tuyệt đối không nhốt dê đực giống trong đàn cái đang chửa.

Đối với dê chửa lần đầu cần xoa bóp nhẹ bầu vú để kích thích tuyến sữa phát triển và tập cho dê quen dần với việc vắt sữa sau này.

Dự tính ngày dê đẻ để chuẩn bị trực, chủ động đỡ đẻ và chăm sóc dê con sơ sinh được chu đáo.

– Dê sắp đẻ nên nhốt riêng từng con ở chuồng đã được vệ sinh tiêu độc khô, sạch, kín ấm và yên tĩnh.

– Trước khi đẻ 5-10 ngày nên giảm bớt thức ăn tinh ở những dê cái có năng suất sữa cao để tránh viêm vú, sốt sữa.

– Có người trực dê đẻ, chuẩn bị cũi, lót ổ nằm cho dê con sau khi sinh và các loại dụng cụ như cồn iốt, giẻ lau, kéo, chỉ để cắt rốn cho dê sơ sinh.

– Dê sắp đẻ có những biểu hiện: Dê khó chịu, đi đái luôn, bầu vú và âm hộ sưng đỏ, bụng sa, bầu vú căng. ở âm hộ có dịch đặc chảy thành dòng và xuất hiện bọc nước ối là dê sắp đẻ. Khi nước ối vỡ ra là dê đẻ. Bình thường thai sẽ được đẩy ra từ từ theo nhịp rặn của dê mẹ. Thường dê đẻ từ 1 -4 giờ tuỳ theo số lượng thai và vị trí thai.

– Nếu dê con đang ra mà bị kẹt, khó đẻ, dê mẹ thường kêu la, cần hỗ trợ bằng cách đưa tay đã sát trùng vào đẩy thai theo chiều thuận, khi lôi thai ra cần cẩn thận, hai lay nắm phần thân phía ngoài kéo nhẹ ra theo nhịp rặn của dê mẹ.

Điều quan trọng trước khi can thiệp là xác định đúng vị trí ngôi thai hiện tại

– Khi dê con ra được ngoài, dê mẹ tự liếm con, song vẫn phải lấy khăn sạch, mềm, khô lau hết nhớt từ miệng, mũi, tai, mình, 4 chân của dê. Sau đó, vuốt sạch máu từ cuống rốn trở ra phía ngoài, dùng dây chỉ chắc thắt chặt cuống rốn cách bụng khoảng 3-4cm, dùng dao sắc hay kéo cắt cuống rốn phía ngoài 1-1,5 cm rồi sát trùng bằng cồn iốt 5% hoặc dung dịch ôxy già. Sau khi đẻ hết con (khoảng 30 phút đến 4 giờ) nhau ra, không để dê mẹ ăn nhau. Trường hợp đẻ khó hoặc sau đẻ 4 giờ mà nhau vẫn chưa ra thì mời Bác sĩ thú y can thiệp. Dê mẹ đẻ xong cho uống nước ấm có pha muối 0,5% hoặc nước đường 5- 10%. Hàng ngày cho dê mẹ ăn thức ăn thô, xanh non, thức ăn tinh chất lượng tốt theo khẩu phần xác định. Không cho dê mẹ ăn quá nhiều thức ăn tinh và củ quả để tránh dê bị chướng bụng đầy hơi.

– Sau đó, rửa sạch bầu vú và âm hộ, vệ sinh khô sạch nơi dê vừa đẻ. Trường hợp nếu dê mẹ sưng nầm sữa thì chườm nước nóng và vắt sữa cho khỏi tắc các tia sữa.

4. Chăm sóc nuôi dưỡng dê vắt sữa

Nuôi dưỡng tốt và chăm sóc chu đáo. Nuôi dưỡng tốt và chăm sóc chu đáo dê sữa sẽ cho năng suất cao.

a) Đảm bảo đủ tiêu chuẩn, khẩu phần của dê sữa:

Ưu tiên cho dê mẹ ăn thức ăn thô xanh non, ngon, chất lượng tốt, bổ sung thêm protein thô từ 15-17%, thức ăn tinh hỗn hợp, premix khoáng sinh tố và muối ăn. Lựa chọn các loại thức ăn mà dê ưa thích để có nhiều sữa.

b) Dê có năng suất sữa trên 2 lít/con/ngày (ở tháng thứ 1 và tháng thứ 2) cần cho ăn và vắt sữa 2-3 lần/ngày.

c) Cho uống nước sạch thoả mãn (từ 3-5 lít/con/ngày) yêu cầu nước sạch có thường xuyên ở các máng trong chuồng và ngoài sân chơi. Bổ sung thường xuyên premix khoáng cho dê 0,5kg/tháng/con trong suốt thời gian vắt sữa.

d) Tạo điều kiện cho dê vận động ở sân chơi hoặc bãi chăn khô ráo gần chuồng nuôi 3-5 giờ/ngày, kết hợp xoa chải, bắt ve rận.

e) Theo dõi sự thay đổi khối lượng của dê mẹ, 1-2 tháng đầu dê mẹ sẽ sụt trọng lượng từ 5-7% nhưng từ giữa tháng thứ 2 dê sẽ hồi phục dần và ổn định khối lượng. Nếu nuôi dưỡng không tốt, thiếu khoáng, hao hụt khối lượng dê mẹ lớn hồi phục chậm, sản lượng sữa sẽ giảm,dê không động dục trở lại, đôi khi sẽ bị bệnh bại liệt.

g) Dê cho sữa nhất là con cao sản thường dễ bị bệnh viêm vú, vì vậy hàng ngày khi vắt sữa phải quan sát theo dõi tình trạng con vật, bầu vú màu sắc mùi vị của sữa, nếu thấy khác thường cần can thiệp kịp thời bằng biện pháp chườm nước nóng, xoa bóp bằng nước muối ấm 10%, dán cao tan hoặc bằng các biện pháp thú y thông thường khác.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Nuôi Chim Trĩ Đỏ Sinh Sản Làm Giàu Cho Gia Đình trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!