Xu Hướng 1/2023 # Hướng Dẫn Thủ Tục Miễn, Giảm Học Phí Với Học Sinh Thpt, Trung Cấp Và Sinh Viên Cao Đẳng Chính Quy # Top 3 View | Raffles.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Hướng Dẫn Thủ Tục Miễn, Giảm Học Phí Với Học Sinh Thpt, Trung Cấp Và Sinh Viên Cao Đẳng Chính Quy # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Thủ Tục Miễn, Giảm Học Phí Với Học Sinh Thpt, Trung Cấp Và Sinh Viên Cao Đẳng Chính Quy được cập nhật mới nhất trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hướng dẫn thủ tục miễn, giảm học phí với học sinh THPT, Trung cấp và Sinh viên cao đẳng chính quy

+ Bản sao công chứng Giấy xác nhận Liệt sỹ của bố/mẹ(đối với con Liệt sỹ).

+ Bản sao công chứng thẻ Thương bệnh binh của bố/mẹ hoặc Giấy xác nhận của bố/mẹ được hưởng chính sách như thương binh(đối với con của thương bệnh binh).

+ Bản sao công chứng biên bản giám định y khoa bị nhiểm chất độc hóa học của bố/mẹ(đối với con của người hoạt động cách mạng bị nhiểm chất độc hóa học).

2. Đối tượng miễn, giảm học phí là: Học sinh trung học phổ thông

4.1. Học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

+ Đơn xin miễn, giảm học phí

+ Giấy tờ chứng minh là hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã.

4.2. Học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.

+ Giấy chứng nhận đối tượng được hưởng chế độ miễn học phí theo mẫu 02 ban hành kèm theo thông liên tich số 20/2012/TTLT-BQP-BTC ngày 06/3/2012.

5.1. Học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

+ Đơn xin miễn, giảm học phí

+ Giấy tờ chứng minh là hộ cận nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã.

6.1. Học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ.

6.2. Học sinh phổ thông bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

6.3. Học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

+ Đơn xin hỗ trợ chi phí học tập

+ Giấy xác nhận mồ côi do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Quyết định về trợ cấp xã hội của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ( 6.1).

+ Giấy xác nhận khuyết tật do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Quyết định về trợ cấp xã hội của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ( 6.2).

+ Giấy tờ chứng minh là hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã ( 6.3).

Đặc Điểm Sinh Học Của Yến Trong Nhà

Mỏ màu đen có chiều dài trung bình 2 mm, chiều dài cánh 122 mm, lông cánh thứ cấp gồm 7 lông, lông cánh sơ cấp gồm 10 lông. Lông đuôi có chiều dài trung bình 45 mm, lông đuôi thứ cấp gồm 10 lông. Chân có 4 ngón, chiều dài cẳng chân trung bình 10,9 mm, ống chân chiều dài trung bình 21 mm, móng chân chiều dài trung bình 4 mm. Chim yến sử dụng đôi nhân để bám giá thể như: vách đá, bờ tường, giá gỗ. Chúng không đậu trên các cành cây, dây điện… Do vậy, trong quá trình phát triển tiến hóa, chim yến phát triển bộ móng chân để thích nghi với đời sống đeo bám.

Ở Việt Nam, chim yến sinh sống trong nhà phân bố từ Thanh Hóa đến Cà Mau, Phú Quốc – Kiên Giang và phân bố khu vực Tây Nguyên có địa hình cao trên 500 m so với mặt nước biển như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai…Vv..

Trong những năm gần đây quần thể chim yến sinh sống trong nhà ở Việt Nam ngày càng tăng. Đây là ưu thế rất thuận lợi cho nghề nuôi chim yến trong nhà phát triển và mở ra một ngành nghề mới cho người dân.

+ Nhiệt độ không khí nằm trong 27 – 31 0 C;

+ Độ ẩm không khí từ 70 – 85%;

+ Ánh sáng lý tưởng trong nhà yến nhỏ hơn 0,2 lux;

+ Chim yến nhà sống thành quần đàn, không sống riêng lẻ; chim yến làm tổ ở nơi đảm bảo an toàn, che khuất, ít sự đe dọa của thú ăn mồi.

Vùng kiếm ăn của chim yến là những khu vực đồng lúa, đồi núi, rừng cây thấp, nơi đây sản sinh ra nhiều loại côn trùng bay là nguồn thức ăn yêu thích của chim yến. Tùy theo đặc điểm thời tiết từng ngày, từng mùa trong năm, có thể thấy sự xuất hiện của chim yến và thời gian kiếm ăn ở các vùng có những khác nhau nhất định. Vào mùa sinh sản vùng kiếm ăn của chim gần nơi làm tổ, chim bay ra bay vào nơi ở nhiều lần để đưa thức ăn về nuôi chim con.

3. Thời gian kiếm ăn.

Thời gian chim rời tổ đi kiếm ăn tùy thuộc vào mùa, khi mặt trời mọc cũng là lúc chim yến bắt đầu đi kiếm ăn.

+ Thời gian rời tổ: 5h00 – 5h30; mùa đông thì trễ hơn vào lúc 6h00.

+ Thời gian về tổ: 18h00 – 18h30; mùa đông thì sớm hơn vào lúc 17h30.

Đối với chim không nuôi chim con thì chúng rời tổ đi kiếm ăn từ sáng cho đến chiều tối về tổ để nghỉ ngơi. Những cặp đang ấp trứng thì luân phiên nhau về ấp trứng. Những cặp đang nuôi chim con thì số lần chim bố mẹ quay về tổ nhiều hay ít phụ thuộc vào chim con đã lớn hay còn bé (chim lớn đòi hỏi lượng thức ăn trong ngày nhiều hơn).

4. Chu kỳ sinh sản.

Chim yến làm tổ bằng nước bọt của chúng được tiết ra từ hai tuyến nước bọt ở dưới lưỡi hai bên má. Vào thời kỳ sinh sản thì tuyến nước bọt phát triển mạnh, phình to ra ở hai bên má. Khi làm tổ, cơ hàm ép vào tuyến nước bọt làm nước bọt được tiết ra, chúng dùng lưỡi đẩy nước bọt ra khỏi miệng và quẹt qua, quẹt lại lên vách đá, khuôn dầm trần nhà hoặc trên vách tường để định hình dạng tổ. Nước bọt tiếp xúc không khí sẽ khô ngay sau khoảng 2-3 giờ. Dần dần (qua nhiều ngày) một cái lưỡi tổ được hình thành và chim yến đeo lên cái lưỡi tổ này hàng đêm để tiếp tục xây tổ cho đến khi tổ hoàn chỉnh để có thể chứa quả trứng của chúng.

Khi vào mùa làm tổ, mỗi đôi chim yến chọn cho mình một chỗ thích hợp (luôn được cố định trong nhiều năm) và cùng nhau xây dựng tổ. Đối với chim mới trưởng thành, chim đực làm tổ trước và kêu gọi chim mái về làm tổ chung; việc tìm kiếm bạn tình có thể nhanh hay chậm. Đối với những cặp đã trải qua sinh sản rồi thì việc làm tổ là nhiệm vụ của cả hai.

Quan sát qua camera hồng ngoại lắp đặt tại nhà yến thì chim yến nhà làm tổ như sau: Khoảng 18h00 chim yến nhà đi kiếm ăn về, chúng nghỉ ngơi khoảng 30 đến 60 phút rồi bắt đầu làm tổ. Khoảng thời gian các cặp chim yến làm tổ nhiều nhất là vào lúc 20h00 cho đến 3h00 sáng ngày hôm sau. Số lần làm tổ và thời gian làm tổ khác nhau qua từng giai đoạn. Giai đoạn đầu khi hình thành tổ trung bình khoảng 12 lần/ngày, khi sắp tới thời gian đẻ trứng thì cường độ tăng lên, khoảng 15 lần/ngày, thời gian một lần quẹt tổ thấp nhất là 25 giây và cao nhất khoảng 7 phút. Chim làm tổ cho đến khi đẻ trứng thì chúng dừng lại, tuy nhiên thỉnh thoảng chúng vẫn quẹt vào chân tổ để gia cố cho vững chắc. Thời gian trung bình chim yến nhà hoàn thành tổ khoảng 50 ngày. Tổ làm hoàn toàn bằng nước bọt màu trắng hình bán nguyệt, kích thước tổ trung bình để chim đẻ trứng là R = 40 ÷ 50 mm. Qua quan sát cho thấy một số tổ có bán kính tối thiểu R min = 35 mm, chim đã đẻ trứng. Bán kính tổ tối đa R max = 65 mm. Những tổ yến không khai thác, sau khi chim con rời tổ thì chim bố mẹ sẽ sử dụng lại cho lần đẻ sau. Những lần đẻ sau chim chỉ gia cố thêm, nhiều lần gia cố như vậy tổ yến sẽ dày thêm.

Sau khi làm tổ xong chim bắt đầu giao phối. Chim thường giao phối vào lúc đêm. Có hai khoảng thời gian giao phối: từ 21h đến 23h; từ 1h đến 3h sáng. Chim giao phối giống như các loại gia cầm khác. Một ngày giao phối khoảng 3 đến 4 lần. Chim giao phối trước khi đẻ trứng 5 đến 8 ngày. Sau khi đẻ trứng đầu tiên, thỉnh thoảng chim vẫn còn giao phối từ 2 đến 3 lần, nhưng sau khi đẻ trứng thứ 2 thì không giao phối nữa.

Chim yến thường chỉ đẻ 2 quả trứng màu trắng. Vỏ trứng mỏng dễ vỡ, kích thước trung bình 21,26 ÷ 13,84 mm, trọng lượng 2,25g. Chim thường đẻ trứng vào lúc sáng sớm từ 2h đến 6h sáng. Thời gian đẻ giữa trứng 1 và trứng 2 khoảng từ 2 đến 6 ngày. Tỷ lệ đẻ trứng của chim yến trong nhà đạt tỷ lệ khoảng 57%; tỷ lệ nở đạt 73%, tỷ lệ nuôi chim trưởng thành đạt 65%.

Có thể xác định được trong năm có 3 tháng (tháng 11; 12 và tháng 1) chim không đẻ trứng hoặc rất ít đẻ trứng. Các tháng còn lại trong năm là mùa sinh sản của chim yến.

Chim bắt đầu ấp khi đẻ trứng đầu tiên. Cả chim trống và chim mái thay phiên nhau ấp trứng và tiếp tục đẻ thêm trứng thứ 2. Khi ấp thì chỉ một con ấp trứng, con còn lại bay đi kiếm ăn, khi bay về thì ấp thay cho con đang ấp đi kiếm ăn. Khi ấp, chim thường dùng mỏ để đảo trứng. Một ngày chim bay ra khỏi tổ 1 – 2 lần, thường vào lúc 8h00 – 10h00 sáng để trứng tiếp xúc với độ ẩm, do đó khi chim con nở ra không bị dính vỏ. Vào ban đêm thì một con ấp, con còn lại bám trên thành tổ, chúng cũng đổi ca ấp cho nhau, một đêm đổi ca ấp khoảng 4 – 5 lần.

Chim con có thể nở vào bất cứ thời gian nào trong ngày, tùy vào điều kiện ấp của chim bố mẹ. Sau khoảng 22 đến 23 ngày thì trứng đầu tiên nở. Thời gian nở của trứng thứ nhất và trứng thứ 2 cách nhau khoảng 2 đến 3 ngày.

Chim non mới nở chịu ảnh hưởng trực tiếp với môi trường sống bên ngoài. Khi chim con vừa nở ngày đầu tiên thì chim bố mẹ không cho ăn mà nằm ấp để sưởi ấm cho chim con, sau đó đi kiếm mồi về cho chim con ăn. Khi đi kiếm ăn thì cả chim bố và mẹ đều bay đi hết. Thời gian đầu chim con nhỏ hơn 10 ngày tuổi thì sau khi cho chim con ăn chim bố mẹ vẫn ấp để sưởi ấm cho chim con từ 1 đến 2 giờ. Thời gian sau chim bố mẹ về chỉ còn mớm mồi cho con.

Ở tuần đầu tiên số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 3 lần/ngày. Ở tuần thứ 2 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 4 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông tơ nhưng chưa nhiều. Ở tuần thứ 3 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 5 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông tơ nhiều hơn và lông đậm hơn. Ở tuần thứ 4 và 5 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 6 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông đầy đủ ở các bộ phận (đuôi, cánh,…) và đã đu tổ được, tập bay.

+ Số lần chim bố mẹ cho chim con ăn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và tùy từng giai đoạn phát triển của chim con. Chim con càng lớn số lần cho ăn tăng lên.

+ Nghiên cứu qua camera quan sát cho thấy chim mẹ mỗi lần cho ăn thường cho một con ăn, nếu thức ăn kiếm được nhiều thì cho cả hai. Mỗi tổ có hai chim con, trong khi chim mẹ cho chim con ăn giữa chúng có sự cạnh tranh giành mồi mớm từ mẹ. Giữa hai chim con sự phát triển không đồng đều.

Thời gian nuôi chim con từ khi mới nở đến trưởng thành trung bình khoảng 48 ngày. Có một số chim non rời tổ sớm khoảng 40 ngày (thường xảy ra đối với tổ 1 con do chim bố mẹ cung cấp đầy đủ thức ăn nên chim con trưởng thành nhanh hơn so với chim ở tổ 2 con).

Bộ lông vũ của chim có ba tác dụng chính: Thứ nhất là bảo vệ cơ thể chim tránh tác động cơ học bên ngoài; Thứ hai, chúng là bộ phận cách nhiệt và điều nhiệt giúp cho chim chống chịu với sự thay đổi thời tiết môi trường; Và thứ ba (quan trọng nhất) là giúp cho chim bay được. Do luôn bị tác động của môi trường nên lông chim bị hư hỏng, mòn đi theo thời gian. Vì vậy, tác dụng của chúng cũng giảm mạnh. Để luôn giữ được tác dụng của bộ lông, chim cũng có sự thay lông. Thay lông là sự thay thế theo chu kỳ bộ lông cũ bằng bộ lông mới. Chu kỳ thay lông thường xảy ra sau chu kỳ sinh sản. Nếu chim có nhu cầu thay lông thì ngừng chu kỳ sinh sản tiếp theo. Khi thay lông, chim có nhu cầu năng lượng rất cao. Chim tăng cường tỷ lệ trao đổi chất.

Cũng như bất kỳ một loài chim nào, chim yến cũng có ngôn ngữ riêng của mình. Có tiếng chim mẹ, chim con, tiếng gọi bạn tình, tiếng gọi bầy, tiếng đấu tranh… Tần số âm thanh mà chim yến nhà phát ra rơi vào khoảng 1 – 16 kHz, tập trung nhất ở khoảng 2 – 5 kHz, hoàn toàn nằm trong khoảng tai người có thể nghe được.

Chúng ta có thể thu được 12 tiếng kêu khác nhau của chim yến vào các thời điểm khác nhau và phân loại được âm thanh của chim yến nhờ vào việc phân tích âm phổ của âm thanh thu được. Phần dưới sẽ trình bày âm thanh cơ bản thường nghe thấy của chim yến.

Âm thanh chim con đòi thức ăn từ chim mẹ của chim yến nhà

Qua quá trình theo dõi và quan sát chúng ta thấy rằng khi chim bố mẹ đi kiếm ăn về, vừa đặt chân lên tổ thì chim con sẽ phát ra tiếng kêu liên tục, đồng thời há miệng to để chim bố mẹ mớm mồi. Tiếng kêu kết thúc khi chúng đã ăn no. Phổ âm thanh của chim con đòi thức ăn từ chim bố mẹ rất khác biệt với những âm thanh khác.

Phổ âm của chim con đòi thức ăn là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm. Mỗi nhịp kéo dài 3 giây. Khoảng cách giữa các nhịp 0,35 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 7 đơn âm có cùng âm sắc. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,43 giây. Tần số âm từ 3 ÷ 10 kHz. Mức cường độ âm thanh của các đơn âm cũng khác nhau. Cường độ âm thanh của các đơn âm thứ 2 là 99,8 dB (đêxiben). Biểu đồ cường độ âm có dạng hình thoi nối tiếp nhau.

Những chim con còn nhỏ chỉ phát ra một loại âm thanh duy nhất là âm thanh đòi thức ăn từ chim bố mẹ. Các chim yến con khác nhau nhưng cùng phát ra một phổ âm thanh giống nhau.

Âm thanh gọi bầy đàn của chim yến nhà

Âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng: Chim yến đi kiếm ăn theo tiếng gọi của bầy đàn. Vì vậy, mỗi sáng sớm khi một số chim rời khỏi tổ, bay lượn xung quanh phòng và đồng thời phát ra tiếng kêu thì tất cả những con chim khác đều rời tổ, bay lượn xung quanh phòng và phát ra những âm thanh ríu rít. Chúng lượn 5 – 10 vòng trong phòng rồi bay ra ngoài qua cửa ra vào. Bên ngoài cửa ra vào chúng tiếp tục bay lượn vòng và phát ra những tiếng kêu khác nhau về âm sắc, tần số. Chúng lượn 10 – 15 vòng thì cùng nhau rời khỏi nhà bay đi kiếm ăn.

Phổ âm thanh thu được lúc 4h40 sáng trong phòng là một chuỗi lặp các nhịp nối với nhau liên tục. Mỗi nhịp bao gồm 6 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,48 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 9 kHz, mức cường độ âm lớn và tương đối đồng đều giữa các đơn âm, cường độ âm thanh lớn nhất tập trung ở đơn âm thứ 6 là 108,6 dB, biểu đồ cường độ âm có hình dạng bầu dục.

Phổ âm thanh thu được lúc 4h50 ngoài cửa ra vào là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm, các nhịp nối với nhau liên tục, mỗi nhịp kéo dài 0,91 giây, khoảng cách giữa các nhịp 0,04 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài mỗi đơn âm trung bình 0,36 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 8 kHz, mức cường độ âm lớn nhất tập trung ở đơn âm thứ 2 là 108,3 dB, biểu đồ cường độ âm có hình dạng hình tam giác.

Âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối: Chim yến đi kiếm ăn từ sáng sớm và trở về nhà vào lúc 16h30. Chúng chưa bay vội vào nhà mà lượn vòng quanh cửa ra vào để hạ nhiệt và đồng thời phát ra tiếng kêu ầm ĩ, gọi nhau cùng vào tổ của mình. Âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối khi đi kiếm ăn về có phần giống âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng. Phổ âm thanh thu được lúc 16h50 ngoài cửa ra vào là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm. Mỗi nhịp kéo dài 2,15 giây. Khoảng cách giữa các nhịp là 0,13 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau là 0,13 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,23 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 10 kHz, mức cường độ âm lớn nhất là 110,3 dB tập trung ở đơn âm thứ 5, biểu đồ cường độ âm có dạng hình tam giác.

Từ những phân tích trên, có thể thấy âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối và âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng của chim yến nhà cùng giống nhau về tần số âm thanh, đều nằm trong khoảng từ 2 ÷ 10 kHz. Âm thanh thường có nhiều nhịp, mỗi nhịp kéo dài trung bình 1,8 giây, mức cường độ âm thanh lớn, âm sắc cũng rất phong phú và đa dạng.

Âm thanh dò đường của chim yến nhà: Nếu thử nghiệm tác dụng âm dội của chim yến nhà bằng cách cho chúng bay trong phòng tối có các vật cản bằng các thanh gỗ nhỏ bắt ngang trong phòng, chim yến nhà sẽ tránh được vật cản đó để tìm đến với tổ của mình bằng cách vừa bay vừa phát ra tiếng kêu dò đường và chúng có thể tránh được các vật cản có đường kính từ 10 mm.

Chim yến trong phòng tối đã định vị bằng tiếng vang để điều hướng thông qua hệ thống phòng tối, nơi chúng sinh sống. Âm thanh này nghe giống như một chuỗi tiếng “cạch, cạch”, phát ra liên tục. Âm thanh này có tần số, biên độ và cao độ khác nhau cho mỗi cá thể chim yến. Vì khi quan sát trong phòng lượn của chim yến, ta thấy rằng có 4 cá thể bay vòng tròn trong phòng, bay chung với nhau, nhưng chỉ có 1 con bay vào phòng thì phát âm thanh này, ngoài ra 3 con bay theo cửa lớn ra vào nhà thì không nhận được âm thanh dội của con vừa phát ra. Do đó, có thể nói âm thanh dội này là đặc trưng riêng của mỗi cá thể chim yến, mà chỉ có chúng mới nhận ra được. Dải phổ âm này đa số là thu được trong phòng chim yến, trong phòng lượn và xung quanh các góc nhà… Khó có thể thu được âm thanh này khi chim yến bay lượn vòng tròn.

Khi chim yến bay trong nhà tối, chúng cần phải định hướng bằng cách hồi âm. Vì vậy, khi bay chim yến thường liên tục phát ra tiếng kêu nghe được, tần số lặp lại của tiếng kêu tăng cao khi chim bay tới gần tổ và thời gian rút ngắn lại. Mỗi tổ có một cấu trúc riêng và sẽ cho ra âm phản hồi đặc trưng cho nó mà chỉ có cá thể làm ra tổ đó mới nhận biết được. Và như thế mỗi cá thể chim yến sẽ dễ dàng nhận ra tổ của mình ở chỗ nào. Một điều lý thú là khi chim đu bám vào vách chúng không phát ra các xung động định hướng cũng như khi bay trong ánh sáng ban ngày.

Âm thanh cảnh báo nguy hiểm của chim yến: Tiến sĩ Robert Magath, thuộc Đại học Quốc gia Australia đã chứng minh được loài chim bồ câu cảnh báo đồng loại khi chúng phát hiện mối nguy hiểm bằng tiếng động mà cánh chim bồ câu tạo ra khi chúng bay trong tình huống không an toàn. Còn đối với chim yến chúng thông báo mối hiểm họa bằng cách phát ra tiếng kêu.

Nếu chúng ta dùng thanh gỗ xua đuổi và bắt chim, lúc này tiếng kêu của chúng rất dữ dội. Nếu lọc tạp âm, rồi tiến hành phát âm thanh thu được cùng với âm thanh dẫn dụ ở khu vực kiếm ăn của chúng để kiểm chứng. Kết quả cho thấy khi phát ra âm thanh la hét thì có 7 chim bay đến lượn quanh khu vực loa phát nhưng giữ khoảng cách rất cao, sau 10 phút chúng tản ra đi hết. Còn lúc phát âm dẫn dụ có đến 12 chim bay đến, chúng lượn quanh với khoảng cách ngắn hơn, có hành động xà xuống vùng phát ra âm thanh và chúng chịu tản đi khi tắt âm thanh. Phổ âm cảnh báo nguy hiểm của chim yến là một chuỗi gồm nhiều đơn âm có cùng âm sắc nối với nhau liên tục. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,44 giây, tần số âm từ 3 ÷ 10 kHz; mức cường độ âm thay đổi đột ngột, tập trung lớn nhất ở đơn âm 11 là 113,6 dB, biểu đồ cường độ âm của nhịp có dạng hình bầu dục, lớn nhất ở giữa, giảm dần ở đầu và cuối.

Đối với chim yến âm thanh rất quan trọng, chúng chỉ làm tổ ở những nơi chúng cảm thấy an toàn. Gần như tất cả các tổ đều được xây gần những chiếc loa. Chính vì vậy mà trong nhà yến cần phải hạn chế những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của chim yến nhằm làm giảm tiếng kêu cảnh báo nguy hiểm để chúng không hoảng sợ, tạo nên môi trường an toàn cho chim yến.

6. Đời sống tự nhiên của chim yến

Loài chim yến sống thành quần đàn, làm tổ từng cặp riêng rẽ, sống ở chỗ gần nước (sông, hồ, biển), kiếm ăn ở các đồng ruộng, rừng cây thấp. Chim yến là loài chim có thể bay lượn cao và bay xa đến 300 km. Bình thường chim kiếm ăn cách nhà khoảng 25 km.

7. Vùng kiếm ăn của chim yến

Vùng kiếm ăn là khu vực thích hợp để chim kiếm mồi, là vùng có đủ thức ăn cho chim yến trong suốt cả năm, vùng chim có thể bắt các loài côn trùng bay suốt từ sáng đến chiều tối. Đặc điểm của một vùng kiếm ăn lý tưởng là có khoảng 50% diện tích cây thấp dưới 1 m như đồng lúa, bụi cây; khoảng 30% diện tích cây cao trên 5 m và khoảng 20% mặt nước thoáng. Buổi sáng, chim rời tổ khoảng 5h, sau đó kiếm ăn trên vùng cây thấp, trên vùng cây cao và vùng có mặt nước. Buổi chiều, vào khoảng 16h00 chim yến thường bay về các khúc sông hoặc đầm phá nước ngọt để tắm và uống nước. Từ 17h00 đến 18h00 chim bắt đầu về tổ và cũng có thể muộn hơn cho đến sau 19h00.

8. Thành phần loài thức ăn của chim yến

Thức ăn của chim yến chủ yếu là các loài côn trùng thuộc bộ Hai cánh (Diptera), thành phần loài khá đa dạng.

Chim yến lựa chọn thức ăn là sâu bọ cánh màng và sâu bọ 2 cánh trước, rồi đến sâu bọ cánh bằng như mối (Isoptera). Riêng ở Khánh Hòa thức ăn của chim yến tổ trắng trưởng thành không biểu hiện một xu hướng nhất định từ tháng này qua tháng khác trong nhiều năm. Từ tháng 6 đến tháng 10, trong suốt mùa mưa, thành phần sâu bọ cánh bằng như mối (Isoptera) và Formicidae gia tăng; trong khi đó thành phần sâu bọ cánh màng và sâu bọ cánh giống (Homptera) lại giảm.

Thành phần thức ăn của chim yến chủ yếu là côn trùng bay, một số loại côn trùng như: rầy nâu, rầy xanh, bọ rầy gây hại cho mùa màng. Dựa trên thành phần thức ăn của chim yến có thể thấy không có sự cạnh tranh thức ăn với các đối tượng nuôi khác và sự phát triển nguồn lợi chim yến phù hợp sẽ góp phần bảo vệ mùa màng, làm cân bằng sinh thái chuỗi thức ăn tự nhiên.

Mọi chi tiết xin liên hệ Tư vấn :

Công ty TNHH Yến Ba Phi(Chuyên: Khảo Sát – Thiết Kế – Thi Công nhà yến)

– Trụ sở chính: 65/7 Thạnh Lộc 22 – P.Thạnh Lộc, Q.12, Tp.HCM.

– Văn phòng đại diện: 177/2/16 Đường Linh Trung, chúng tôi Trung, Q.Thủ Đức, Tp.HCM

– Chi nhánh 1: Km38, QL.26, Xã Eaphê, Krông Păc, ĐăkLăk.

– Chi nhánh 2: 85A/4 Bình Lợi, Thị Trấn Tân Trụ, Huyện Tân Trụ, Long An.

– Chi nhánh 3: TT Sa Rài, H. Tân Hồng, Đồng Tháp

Liên hệ tư vấn và khảo sát nuôi Yến : 0902005034 (Mr.Quang)

– Fanpage Facebook: YẾN SÀO BA PHI

Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Nuôi Khướu Sinh Sản Đạt Hiệu Quả Cao

Để có thể nuôi chim khướu, đặc biệt là nuôi chim khướu sinh sản thì việc làm chuồng như thế nào là điều vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả nuôi chim của chúng ta. Tất nhiên, khi nuôi chim khướu sinh sản thì chúng ta phải nuôi theo đôi, vì thế nên khi làm chuồng thì ta cũng cần chuẩn bị cho hai con chim. Kích thước hợp lý nhất cho chuồng của một cặp chim khướu là cao x rộng x dài khoảng 2m mỗi chiều.

Bên cạnh đó, để một chiếc chuồng chim được hoàn thiện và đảm bảo nhất thì mọi người nên lưu ý rằng bên trong lồng chúng ta cần trồng thêm cây trúc hoặc cây dạ bì và trên chuồng cần phải có mái che. Về mặt vật liệu, các bạn có lựa chọn nhiều loại vật liệu khác nhau, tuy nhiên để có thể sử dụng lâu dài thì chúng ta nên làm bằng inox để tránh trường hợp chuồng bị han gỉ.

Chọn chim khướu để ghép đôi là một phần không thể thiếu trong quá trình nuôi chim khướu sinh sản và đương nhiên quy trình này cần phải được thực hiện một cách cẩn thận, chu đáo nhất có thể ngay từ các giai đoạn đầu tiên. Trước hết, khi nuôi chim khướu sinh sản thì các bạn cần có được những kiến thức cơ bản trong việc chọn giống chim tốt qua một số đặc điểm như: bộ lông dày, xốp, cánh tròn, hai chân chim cao, khỏe, di chuyển tốt, nhanh nhẹn cả trên cây lẫn trên mặt đất. Đặc biệt, khi chọn chim thì các bạn nên đặc biệt chú ý tới tiếng hót của chúng thông qua hình dáng của chim.

Sau khi đã chọn được chim giống thì bước tiếp theo chúng ta cần thực hiện đó là nuôi, chăm sóc. Tuy nhiên, để thực hiện cách nuôi khướu sinh sản chính xác, bạn cần lưu ý rằng ngay khi mua chim giống về chúng ta tuyệt đối không nên nhốt chúng vào chuồng ngay bởi lẽ khi chưa quen nhau thì chim khướu rất dễ đánh nhau. Vậy nên, để hai chú chim làm quen với nhau thì ta nên nhốt chim trống vào chuồng trước và để chim mái ở ngoài, khi bạn thấy những biểu hiện tốt từ hai chú chim thì ta có thể nhốt chúng vào chung một chuồng.

Khi được nhốt chung khoảng vài ngày thì chim trống sẽ đạp mái và sau đó thì các bạn cần phải lót ổ cho chim mái đẻ trứng. Có nhiều cách để chúng ta lót ổ để cho chim mái, bạn có thể sử dụng ổ rơm hoặc cỏ khô hay nhiều vật dụng khác miễn và chúng mềm và có hình dáng phù hợp.

So với việc nuôi chim khướu làm cảnh như thông thường, chắc chắn cách nuôi khướu sinh sản luôn được đánh giá là khó khăn hơn khá nhiều. Nguyên nhân cơ bản gây ra sự khó khăn cho người nuôi chim khướu sinh sản đó chính là do trong thời kỳ sinh sản thì sức khỏe của chim mái sẽ bị ảnh hưởng khá nhiều và không được ổn định. Thêm vào đó thì chúng ta cũng cần quan tâm nhiều hơn tới chim con nữa.

Nếu muốn đảm bảo sức khỏe cho chim khướu khi nuôi con, đặc biệt là chim cái thì yếu tố quan trọng nhất đó chính là chế độ ăn. Hãy nhớ rằng khi nuôi chim con thì việc chú ý cung cấp đầy đủ nhiều thức ăn hơn là điều tiên quyết. Nó đảm bảo cho chúng có thể phát triển khỏe mạnh và toàn diện nhất.

Thông thường, thức ăn cho chim khướu rất dễ kiếm, bạn có thể tìm dễ hoặc cào cào cho chúng ta, đó đều là những nguồn thức ăn tươi vô cùng bổ dưỡng cho chim khướu. Đặc biệt, khi chim khướu mẹ đang trong thời gian nuôi con cần bổ sung thêm thức ăn tươi thay vì sử dụng cám thông thường.

Không chỉ có vậy. dù bạn nuôi bất cứ một loại chim gì thì chúng ta cũng cần phải có một chế độ chăm sóc riêng biệt, nhất là đối với cách nuôi khướu sinh sản. Tất nhiên, những điều cơ bản cần phải thực hiện tốt đó là đảm bảo về nguồn thức ăn chất lượng, vệ sinh cùng với môi trường sống sạch sẽ, phù hợp với chim khướu.

Ngoài ra, đặc tính của chim khướu là chúng rất thích tắm bởi trong tự nhiên chúng thường cư trú tại các khu vực có nước như ven song, khe suối… tất nhiên, khi nuôi chim khướu thì bạn cũng nên chú ý cho chúng tắm khi đã nuôi được khoảng nửa tháng bằng cách chuẩn bị thêm một chuồng khác chuyên dùng để cho chim khướu tắm.

Giải Bài Tập Sinh Học 7 Bài 41: Chim Bồ Câu

LỚP CHIM Bài 41 CHIM BỒ CÂU I. KIẾN THỨC Cơ BẢN Qua phần đã học các em cần nhớ các ý chính về cấu tạo ngoài của Chim bồ câu như sau: Chim bồ câu là động vật hằng nhiệt, có cấu tạo ngoài thích nghi với đời sống bay, thể hiện ở những đặc điểm sau: Thân hình thoi được phủ bằng lông vũ nhẹ xốp. Hàm không có răng, có mỏ sừng bao bọc. Chi trước biến đổi thành cánh; chi sau có bàn chân dài, các ngón chân có vuốt, ba ngón trước, một ngón sau. Tuyến phao câu tiết dịch nhờn. Chim bồ câu có kiểu bay vỗ cánh. GỢl ý trả lời câu hỏi (trang 135, 136 sgk) PHẦN THẢO LUẬN <p Quan sát hỉnh 41.1, hình 41.2, dọc bảng 1, điền vào ô trổng của bảng 1. Bảng 1: Đặc điểm cấu tạo ngoài của Chim bồ câu Đặc điểm cấu tạo ngoài Ý nghĩa thích nghi Thân: hình thoi Làm giảm sức cản không khí khi bay Chi trước: cánh chim Khi xoè ra tạo thành 1 diện tích rộng quạt gió, khi cụp lại thì gọn áp vào thân Chi sau: 3 ngón trước, 1 ngón sau, có vuốt Giúp chim bám chặt vào cành cây khi đậu hoặc khi duỗi thẳng xoà rộng ngón khi chim hạ cánh Lông ống: có các sợi lông làm thành phiến mỏng Tạo thành cánh, đuôi của chim, khi xoè ra tạo diện tích rộng . Lông to: có các sợi lông mảnh, làm thành chùm lông xốp Giữ nhiệt và làm thân chim nhẹ Mỏ: mỏ sừng bao lấy hàm không có răng Làm đầu chim nhẹ Cổ: dài, khớp đầu vỡi thân Giúp đầu chim linh hoạt, phát huy được tác dụng của giác quan (mắt, tai) thuận lợi khi bắt mồi, rỉa lông (p Quan sát hình 41.3 và hình 41.4, đánh dấu y/ ứng với động tác thích hợp vào bảng 2. Bảng 2: so sánh kiểu bay vỗ cánh và bay lượn Các động tác bay Kiểu bay vỗ cánh (Chim bồ câu) Kiểu bay lượn (Chim hải âu) Cánh đập liên tục a/ Cánh đập chậm rãi và không liên tục AÍ Cánh dang rộng mà không đập a/ Bay chủ yếu dựa vào sự nâng đỡ của không khí và hướng thay đổi của các luồng gió a/ Bay chủ yếu-dựa vào động tác vỗ cánh GỘI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI (trang 137 SGK) & 1. Trình bày đặc điểm sinh sản của Bồ câu? Thụ tinh trong, Chim bồ câu trông chưa có cơ quan giao phôi, chỉ có cơ quan giao phôi tạm thời (do xoang huyệt lộn ra ngoài). Chim mái đẻ 2 trứng 1 lứa, có vỏ đá vôi bao bọc, trứng được chim bô' mẹ thay nhau ấp, nuôi con non bằng sữa tiết từ diều của chim bô', mẹ. ỷ 2. Nêu những đặc điểm cấu tạo ngoài của Chim bồ câu thích nghi với đời sống bay. Thân hình thoi, được phủ bằng lông vũ nhẹ xô'p; hàm không răng, mỏ có sừng bao bọc, chi trước biến thành cánh; chi sau có bàn chân dài, các ngón chân có vuốt, 3 ngón trước, 1 ngón sau. Tuyến phao câu tiết dịch nhờn. Chim bồ cầu có kiểu bay vỗ cánh. So sánh kiểu bay vỗ cánh và bay lượn. Bay vỗ cánh: đập cánh liên tục, bay chủ yếu dựa vào động tác vỗ cánh. Bay lượn: đập cánh chậm, không liên tục, nhiều lúc chim dang rộng cánh mà không đập cánh. CÂU HỎI BỔ SUNG Ngày xưa, khi ngành bưu điện chưa phát triển có một loài chim được nuôi và huấn luyện để đưa thư rất hiệu quả, đó là loài chim nào? Gợi ý trả lời. Đó là Chim bồ câu, người ta đã lợi dụng đặc tính bay nhanh, bay lâu nghỉ và chuyển thư chính xác đến nơi ta cần chuyển.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Thủ Tục Miễn, Giảm Học Phí Với Học Sinh Thpt, Trung Cấp Và Sinh Viên Cao Đẳng Chính Quy trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!