Xu Hướng 3/2024 # Giới Thiệu Một Số Loài Chim Ở Bắc Ái # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Một Số Loài Chim Ở Bắc Ái được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Qua điều tra, ghi nhận khu vực rừng khộp vực Bắc Ái, Ninh Sơn có 58 loài chim thuộc 8 Bộ, 23 Họ và 46 Chi. Đặc biệt, ở đây không có loài chim đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm theo các hệ thống đánh giá của IUCN, sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Nhóm khảo sát động vật – thực vật của trung tâm GreenViet đã tham gia đợt điều tra đa dạng sinh học tại khu vực rừng khộp vực Bắc Ái, Ninh Sơn, Ninh Thuận. Đây là khu vực rừng nằm tiếp nối giữa 2 vườn quốc gia lớn của tỉnh Ninh Thuận là Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa và Phước Bình. Kết thúc chương trình khảo sát nhanh trong 11 ngày làm việc tại các điểm khảo sát trên các sinh cảnh rừng khác nhau, nhóm điều tra chim ghi nhận được 58 loài chim thuộc 8 Bộ, 23 Họ, và 46 Chi. Trong tổng số các loài chim ghi nhận được thì có 56 loài (99.55%) là các loài chim định cư phổ biến. Không có các loài chim đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm theo các hệ thống đánh giá của IUCN, sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Hình ảnh một số loài chim ghi nhận tại khu vực khảo sát:

Nguồn ảnh: Bùi Văn Tuấn/GreenViet

Giới Thiệu Các Loài Vẹt

Cũng như chó có các loài khác nhau, vẹt cũng có nhiều giống khác nhau. Trong thực tế, những chú vẹt thuộc các giống khác nhau thì khác xa nhau như chó và mèo vậy. Đây là một điều rất quan trọng khi chọn các giống vẹt, bởi sự khác biệt về hành vi giữa chúng có thể rất lớn mặc dù chúng đều được gọi là vẹt.

Vẹt có các hình dạng, kích cỡ khác nhau và chúng đến từ các lục địa khác nhau trên thế giới. Mặc dù kĩ thuật huấn luyện chúng là như nhau, những giống vẹt khác nhau có thể sẽ có những hành vi bản năng rất khác nhau. Bạn nên chọn một chú vẹt có những thói xấu mà bạn có thể chấp nhận được hơn là chọn một chú vẹt có những tính cách mà bạn yêu thích. Người ta có thể chấp nhận hoặc thậm chí phát triển những tính cách mà họ yêu thích với một con vẹt thiếu những tính cách yêu thích đó. Tuy nhiên, việc phải chịu đựng thường xuyên những thói xấu của vẹt trong nhiều năm trở nên quá sức chịu đựng của một số người và cuối cùng họ phải gửi vẹt tới các trạm giải cứu. Vì vậy ngay từ đầu nên chọn một mối quan hệ có khả năng thành công bằng việc lựa chọn một giống vẹt phù hợp với bạn trước khi áp dụng các quy tắc mà bạn sắp học sau đây. Cho dù một chú vẹt có phù hợp như thế nào, bạn vẫn sẽ còn phải làm rất nhiều việc để thuần hóa con vật hoang dã này. Tuy nhiên, có một số tính cách bản năng của nó mà bạn không bao giờ thay đổi được, vì vậy, bạn nên tránh chọn những giống vẹt không có các thói xấu đó để sau này bạn sẽ không phải hối tiếc.

Tuy nhiên, những sự tổng quát trong cuốn sách này và những cuốn khác chỉ mang tính khái quát hóa. Mỗi con chim là một thực thể riêng biệt và nó có rất nhiều điểm khác biệt. Tuy nhiên, nếu bạn biết các nét khái quát chung về một giống chim nào đó có vẻ không phù hợp với bạn, thì bạn đừng nên thử nuôi một chúng với hi vọng chúng sẽ khác đi so với những tổng quát về loài chim ấy. Tương tự như thế, khi bạn mua một chú chim thuộc vào một loại chim có những đặc điểm mà bạn yêu thích, có thể bạn sẽ thấy chú chim đó không có chút đặc điểm nào như thế. Nói một cách khác, không phải mọi con Vẹt Xám Châu Phi đều biết nói, không phải mọi con vẹt mào đều nhổ lông, và không phải con vẹt két (conure) nào cũng la hét. Những kiến thức tổng quát chỉ nhằm giúp bạn đánh giá những tiêu chí để lựa chọn mua giống vẹt nào. Sau đó, bạn sẽ tự quyết định xem chú vẹt bạn mua có giống với những tính cách chung của giống đó không.

Những giống vẹt phổ biến được nuôi gồm có: vẹt đuôi dài, vẹt cockatiel, vẹt parrotlet, vẹt lovebird, Amazon, vẹt mào cockatoo, vẹt két ngực hồng, macaw, lorie, poicephalus, vẹt xám châu phi, vẹt caique, và vẹt eclectus. Một số loại vẹt ở trên là các giống vẹt cụ thể, một số là giống chung, một số là họ hàng của nhau hoặc chỉ là những con vẹt có cùng đặc điểm. Tuy nhiên, bởi vì đây là những loại vẹt thường được sử dụng trong các thuật ngữ về loài vẹt, tốt hơn hết là nên phân tích chúng và không cần thiết phải đi quá sâu vào tên gọi của chúng.

Là những chú vẹt có đuôi nhỏ dài. Có rất nhiều giống vẹt đuôi dài, tuy nhiên những con chúng ta thường gặp nhất gồm có:

Budgerigar hay còn gọi là Yến Phụng (chim vẹt đuôi dài nhỏ nhất ở Úc).

Vẹt Ngực Hồng (Psittacula alexandri)

Những con vẹt đuôi dài có thể có nhiều kích cỡ, nhưng chúng không bao giờ quá lớn để không thể nắm được trên tay. Chúng đều có những cái đuôi dài, đẹp và có khả năng bay tốt. Chúng thường nói kém, hay rít lên, và ít thân thiện với người. Tuy nhiên,loài vẹt này thường dễ chăm sóc, chi phí chăm sóc rẻ hơn, dễ tha thứ hơn, và dễ huấn luyện hơn. Không nên mua những con có màu sắc lai tạo, và nên chọn con vẹt với màu chuẩn của một con vẹt hoang dã. Những con vẹt có màu sắc đặc biệt nhìn có vẻ lạ, nhưng thường chúng đã được lai tạo để lấy màu đẹp và chúng dễ bị ốm, và thường có các đặc tính không mong muốn.

Là loài nhỏ nhất và đặc biệt nhất trong giống vẹt mào. Chúng là một chú chim khá nhỏ với một cái mào có thể cử động được trên đầu. Xét về nhiều mặt, chúng là một trong những chú vẹt phù hợp nhất cho những người mới nuôi vẹt. Cockatiel không thật sự nổi nhưng nó có thể phát triển khả năng huýt sáo các giai điệu. Cỡ lồng và không gian cần thiết cho vẹt đủ nhỏ để có thể phù hợp với bất cứ cỡ nhà nào. Tương tự, chúng cũng khả năng bay tốt và chịu ở trong các không gian nhỏ hẹp. Những con vẹt này học nhanh và thân thiện. Cái mào cử động được trên đầu chúng thể hiện tâm trạng của chúng và vì vậy ngôn ngữ cơ thể của chúng rất dễ đọc và dễ hiểu, kể cả cho những người mới nuôi vẹt lần đầu.

Vẹt parrotlet và lovebird

Có kích cỡ nhỏ nhưng lại rất ầm ĩ. Chúng là những con chim nóng nảy và cáu kỉnh. Chúng vẫn có thể được thuần hóa, tuy nhiên vẻ ngoài bé nhỏ của chúng không có nghĩa chúng là những chú chim dễ dàng. Giá của những chú vẹt parrotlet và lovebird có thể gần bằng với những chú vẹt to hơn. Chúng có thể không kêu to như những con vẹt to, nhưng chúng vẫn có thể phát ra những tiếng la hét inh tai và những tiếng gọi đủ nghe. Nếu bạn thiếu không gian, nhưng có đủ khả năng tài chính, và bạn đang tìm kiếm những chú vẹt có tính cách của những con vẹt to, có thể parrolet và lovebird phù hợp với bạn.

Chúng được ngưỡng mộ bởi màu sắc và sự tinh nghịch của chúng. Mặt khác, chúng cũng khá ồn ào và hay cắn. Những chú vẹt conure má xanh (Vẹt Green Cheek) là một trong những giống vẹt conure nhỏ nhất được nuôi. Chỉ lớn hơn chim vẹt Cockatiel đuôi dài ở Úc một chút, chúng rất hung hăng và được yêu thích bởi những người không thể nuôi được những con vẹt lớn hơn. Những con vẹt conure mặt trời (Vẹt Sun Conure) là những con có màu sắc sặc sỡ nhất. Ngoài ra còn có một số các loài vẹt conure khác có kích cỡ và màu sắc khác.

Bao gồm 7 loại vẹt được nuôi và chúng có nhiều đặc điểm tương tự. Chúng khác nhau về kích thước và màu sắc nhưng có tính cách gần giống nhau. Chúng có vẻ nhút nhát và ít nói hơn những con vẹt khác cùng kích cỡ. Poicephalus không được coi là loài vẹt hay nói, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt. Chúng ít màu sắc hơn và thường có màu xanh hoặc đen; tuy nhiên, chúng thường được biết đến như là những con chim có “cá tính”. Những con vẹt poicephalus có khả năng phát triển một mối quan hệ thân thiết với con người. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng là một khuyết điểm, bởi vì chúng có thể trở nên vô cùng hung dữ với những người chúng không thích.

Được xếp vào một nhóm riêng. Có 2 giống vẹt caique: những con đầu đen và những con bụng trắng. Chúng có các đặc điểm pha trộn của loài vẹt conure và poicephalus: chúng có màu sắc sặc sỡ, thích khoe khoang, nhưng cũng có thể trở nên hung dữ. Loài vẹt này nổi tiếng về sự cáu bẳn của chúng và không phù hợp với những người thích sự yên tĩnh.

Vẹt thuộc giống vẹt Amazon

Hầu hết chúng đều có kích thước trung bình và có màu xanh. Các chú vẹt Amazon được phân biệt nhờ vào bộ lông trên đầu chúng. Những chú vẹt Amazon nói chuyện nhã nhặn và đã từng được dạy hát. Tuy nhiên, khi đến độ tuổi trưởng thành, chúng cực kỳ hung hăng và có thể cắn rất mạnh. Những chú vẹt này không phù hợp với những người không chịu được sự hung dữ.

Vẹt Xám Châu Phi (African Grey Parrot)

Thuộc về một giống riêng. Tuy nhiên, chúng chia thành 2 giống vẹt chính: Vẹt xám châu phi Congo (CAG) và vẹt xám châu phi Timneh (TAG). Loại vẹt TAG nhỏ hơn, đuôi màu hạt dẻ, còn giống CAG lớn hơn và đuôi màu đỏ tươi. Những chú vẹt xám được biết đến là một trong những con vẹt thông minh nhất và nói giỏi nhất. Tuy nhiên, đây chưa chắc đã là điều tốt. Những chú vẹt này thông minh đến nỗi rất khó để có thể quản lý và huấn luyện chúng. Hơn thế nữa, nếu không được thử thách, chúng có thể sử dụng trí thông minh của mình để thực hiện các hành vi điên rồ như nhổ lông, cắn, hoặc kêu thét. Những chú vẹt xám châu Phi không nên được mua chỉ bởi vì khả năng nói chuyện của nó, chúng nên được nuôi dưỡng bởi một người đang thật sự tìm kiếm một thách thức khó khăn lâu dài.

Rất dễ nhận ra những chú vẹt mào nhờ vào những cái mào cao trên đầu của chúng. Đa số những chú vẹt mào có màu trắng, trong khi một số con có màu khác. Chúng thuộc về số những con chim thích âu yếm và thích sự chú ý nhất. Tuy nhiên, chúng cũng nằm trong số những chú vẹt phiền toái nhất để chăm sóc. Những ưu điểm của chúng hoàn toàn lép vế trước những vấn đề mà chúng gây ra. Chúng thường rất ồn ào và luôn luôn tìm kiếm sự chú ý. Nếu chúng không nhận được sự chú ý như mong muốn, chúng rất có thể sẽ nhổ lông, cắn và la hét.

Là những chú vẹt to nhất và vì thế chúng cũng có những yêu cầu đồ đạc lớn hơn. Những con vẹt này lớn đến nỗi có thể cần cả một căn phòng hoặc chuồng chim để có thể đáp ứng kích cỡ lồng tối thiểu của con chim này.

Những chú chim này rất đẹp, có thể khá thân thiện, nói rất to, và có thể nói chuyện tốt. Tuy nhiên một chú chim lớn như vậy đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn. Chúng đòi hỏi không gian lớn cũng như nhiều đồ chơi và những đồ vật để chúng có thể phá phách. Vì vậy, chúng không phù hợp với phần lớn mọi người.

Ngoài ra còn rất nhiều loài vẹt khác mà bạn cần tự tìm hiểu về chúng vì tôi không thể liệt kê hết trong ebook này được. Khi chọn được loài phù hợp, chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về các biến thể màu sắc khác nhau của loài vẹt đó.

Các Bài Trong Chương Này

Một Số Nét Về Loài Chim Yến

Về một số giống loài chim yến Nội dung trong bài viết

Về một số giống loài chim yến

Đời sống tự nhiên của chim yến hàng

Thành phần hoá học cơ bản của tổ yến

Thuộc họ: Apodidae

Giống: Collocalia (tiếngAnh-Swifts)

Loài:

Collocalia fuciphagus (yến tổ trắng, VN-yến hàng)

Collocalia gigas (yến lớn)

Collocalia maxima (yến tổ đen- yến xiêm)

Collocalia brevirostris (yến núi)

Collocalia vanicorensis (yến tổ rêu)

Collocalia esculenta (yến bụng trắng, theo tiếng Indonesia gọi là yến sapi).

Chim yến ( Swiftlet– t iếng Anh) và chim én thường bị lẫn lộn vì chúng đều là những loài chim bay lượn, thích bay lượn trên bầu trời để thăm dò thám thính ở những khoảng cách khá xa, và đều ăn các côn trùng bay.

Về mặt phân loại, nhóm chim yến thuộc họ Apocdidae (theo tiếng la tinh nghĩa là “không chân”), có đặc trưng là chân yếu ớt không thể đậu được nhưng có khả năng bay cao và có thể bay lượn liên tục trong không trung suốt cả ngày. Tổ làm từ nước bọt hoặc thêm các thứ khác như lông, cỏ trộn nước bọt. Cánh uốn cong và đuôi lõm mức vừa phải.

Khác với nhóm trên, loài chim én (chim nhạn – tiếng Anh: Swallows, Martins), cũng thích bay lượn trên trời cao, thuộc hirudinidae thì có chân khoẻ mạnh, có thề đậu xuống trên cây và dây điện, chân có ba ngón phía trước, một ngón phía sau; cánh dài, nhọn, gần như thẳng; lông nói chung có màu xanh dương ngả sang màu đen; tổ làm từ đất sét hoặc cỏ cây.

Tại Indonesia nguời ta đã tìm ra bí quyết nuôi chim yến trong nhà bằng cách nương tựa vào một loài chim mà người Indonesia (Indo.) gọi là chim sriti và nhiều ý kiến cho rằng nó chính là chim “én ” (nên nhiều người ở đây vẫn dùng tiếng Anh là Swallow). Con chim sriti này làm tổ dưới mái nhà, và tổ của nó có thể dùng để ấp nở trứng yến. Trên thực tế nó ở trong cùng họ với chim yến (họ Apodidae), có tên la tinh là Coilocalia linchi (theo Tim Penulis PS). Bởi vì chim con của nó hầu như giống chim yến sapi (C. esculenta). Nhưng lông phân bố trên lưng của cơ thể C. linchi màu đen phớt xanh lục và không có các lông nhỏ ở trên ngón chân cái. Trong khi lông trên cơ thể của chim C. esculenta màu đen phớt xanh dương, và trên ngón chân cái có lông nhỏ.

Ở bắc Kalimantan và Benunnungan Bukit Barisan, loài chim C. linchi sống cùng chỗ với loài C. esculenta. Ở đảo Jawa và Bali, loài C. linchi kiếm mồi cả ở các vùng thấp đến đỉnh núi có độ cao 3000m so với mặt biển. Loài này hay bay lượn gần nhà và thích làm tổ ở trong nhà, dưới mái nhà, nhất là ở vùng Sukabumi. Tổ của nó hình cái bát không đều đặn, tổ được kết bện chặt bằng cỏ nhỏ và nước bọt, kích thước tổ 65,5 x 45 mm, có thể sử dụng để ấp trứng chim yến hàng.

Tổ chim yến núi, yến lớn, yến tổ rêu, yến sapi C. esculenta và cả tổ yến sriti C. linchi đều không thể ăn được, riêng tổ của loài yến xiêm C. maxima thì có thể ăn được nhưng phải nhặt hết lông. Mội số người Indo. còn dùng các tổ yến phẩm chất xấu có trộn nhiều lông để làm thuốc cho ngựa.

Ở VN loài chim này có trọng lượng cơ thể khoảng 12-20gr, làm tổ lần đầu kéo dài 4 tháng, bắt đầu khoảng tháng 12 -tháng 1, tuỳ địa phương và điều kiện khí hậu từng năm. Chim bắt đầu đẻ trứng vào giữa và cuối tháng 3 đến giữa tháng 5 (tùy vùng), có 70% chim tập trung đẻ vào đầu và giữa tháng 4. Nếu bị khai thác lấy tổ thì tiếp tục làm tổ đến khoảng tháng 5-6, còn nếu tổ của chúng không bị lấy đi thì chúng sẽ đẻ lại lần 2 sau khi chim non rời tổ được 5 – 40 ngày, có 30% số chim đẻ lại trong vòng 7-10 ngày. Thòi gian ấp trứng là 23 – 30 ngày, trung bình 25 ± 2. Chim non rời tổ sau khi nở 40 – 45 ngày, trọng lượng cơ thể là 14,5gr. Thức ăn của chim yến hàng chủ yếu là côn trùng: kiến, mối, ruồi muỗi, bọ rầy, các loài cánh cứng và nhộn. Chim trưởng thành ăn chủ yếu là kiến cánh.

Chim non ăn bọ rầy (nâu, xanh) – chiếm 50% và ruồi muỗi chiếm 20%. Trong thức ăn của chim bố mẹ thì bọn cánh màng ( Hymenoptera) chiếm tỷ lệ cao hơn cả. Vào mùa mưa tỷ lệ mối trong ruột là 100% (theo NQP).

Loài này sinh sống nhiều từ vĩ độ 10 o S đến 20°N và kinh độ 95° đến 115° đông, chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Á, Philippines, Việt Nam, Thailand, Malaysia, Indonesia (Kalimantan, Sumatera, Jawa, Bali…), Campodia.

Ở Việt Nam người ta thấy chim yến hàng làm tổ ở các đảo trong vịnh Hạ Long, Quảng Bình, Đà Nẵng (Cù Lao Chàm), Quảng Ngãi (Sa Huỳnh), Bình Định (bán đảo Phước Mai), Khánh Hòa (10 đảo lớn nhỏ), Phan Rang (Đá Vách), Côn Đảo (10 đảo), Kiên Giang (khoảng 4-5 đảo) (theo NQP).

b/ Loài yến lớn C. gigas là loài chim có cơ thể lớn so với các loài yến khác. Kích thước trung bình của cơ thể khoảng 16cm. Lông chim màu đen, phía dưới màu nâu tối. Lông đuôi chẽ đôi rõ.

Chim thường chỉ đẻ 1 quả trứng, trứng trắng và hình dạng gần như oval. Vào tháng 11-12 yến lớn thường bước vào mùa làm tổ. Phân bố nhiều ở Malaysìa, Sumatera, Kalimanlan và Jawa, thường thấy ở các vùng núi cao rùng rậm.

c/ Loài yến xiêm C. maxima cũng hay làm tổ chung với loài yến hàng, chiều dài trung bình cơ thể là 12,5cm (số liệu Indo.). Lông lưng màu nâu phớt đen, lông ngực màu xám đen và lông đuôi màu nâu phớt cam. Đuôi cũng hơi chẽ đôi. Loài yến này chân có lòng phẳng, mắt nâu đậm, mỏ đen, chân đen. Tổ chim màu đen vì được làm từ lòng đen và nưức bọt của chim kết lại. Tổ yến đen có tới 90% là nước bọt và 10% là lông. Sau khi lựa hết lông ra, tổ chim có thể ăn được. Chất lượng tổ tất nhiên là thấp hơn so với tổ yến hàng. Chim cũng ăn các côn trùng nhỏ và chủ yếu là các côn trùng bay. Chim thích làm tổ trong các khe đá vôi.

Người ta thấy mùa vụ ghép đôi cũng giống chim yến hàng. Trứng màu trắng, thường chỉ đẻ 1 quả. Giống như chim yến hàng, loài yến xiêm cũng dễ nuôi hơn những loài yến khác.

Loài này thường thấy ven bờ biển, làm tổ trong các khe núi đá vôi ở Indonesia, Himalaya, Malaysia, Thailand, Philippines.

Việt Nam cũng có loài yến xiêm, hay cùng làm tổ với yến hàng ở một số đảo vùng Khánh Hoà. Nhưng yến xiêm ở đây có số lượng quá ít, khoảng 90 đôi (186 con – theo NQP), trọng lượng cơ thể từ 12-17 gr.

d/ Yến núi C. brevirostris, lông chim màu đen, đuôi màu xám đen. Lông đuôi chẽ đôi sâu, chân hơi có chút lông hoặc không. Cơ thể hơi lớn, chiều dài trung bình đạt 14cm.

Loài này bay nhanh, thường ghép thành nhóm, hướng đến các vùng cao, đỉnh núi. Ăn các côn trùng nhỏ và cả các côn trùng bay. Tổ của nó làm trong các khe đá, nơi có dấu vết núi lửa và ở các đỉnh núi. Bởi vì tổ của nó làm từ cỏ, chỉ trộn rất ít hoặc không có nước bọt nên loại tổ yến này không thể ãn đươc. Chim có mùa vụ ghép đôi, thường đẻ 2 quả trứng.

Loài chim này thường gặp ở Himalaya, Trung Quốc, Đông Nam Á, Philippines, Andaman, Sumatera, Jawa.

e/ Yến tổ rêu C. vanicorensis, lông chim màu nâu ngã sang màu đen, lòng đuôi tối hơn. Đuôi cũng chỉ hơi lõm vào. Giọng hót ríu rít và cao. Kích thước cơ thể nhỏ, chiều dài cơ thể trung bình khoảng 12cm.

Chim bay mạnh và xa, đôi lúc cũng bay lượn xoay tròn và là thấp xuống gần mặt đất để tìm các côn trùng nhỏ. Tổ đẹp với bề mặt mềm. Rêu tảo được dùng để phủ và bện kết thêm cho đến khi tổ làm xong, nên được gọi là “yến tổ rêu”

Yến tổ rêu thấy nhiều ở Sumarera, Kalimantan, Javva và các vùng tây Thái Bình Dương.

g/ Yến bụng trắng C. esculenta (tiếng Anh là White Billied Swiftlet).

Lông lưng đen phớt xanh dương, lông ngực phớt màu cam tối (màu vàng bí ngô), phần lông bụng trắng hơn, đuôi có chẽ đôi nhỏ. Mắt nâu tối, mỏ đen, chân đen. Giọng hót ríu rít và cao. Đây là loại chim yến nhỏ nhất trong giống yến, có chiều dài cơ thể trung bình khoảng 10cm.

Chim sống cả trên vùng cao nguyên, thích đồng cỏ, rừng cây rộng và thoáng. Loài chim này hay bay thành nhóm nhưng không xếp thứ tự. Chim không bay xa, thường bay thấp hoặc lượn vòng tròn gần trên mặt đất, hoặc mặt nước để tắm và uống nước. Khi tìm kiếm thức ăn thường kêu hót ríu rít dưới các cây lớn có nhiều côn trùng. Hình dạng tổ không đều đặn, được làm từ rêu, cỏ và nước bọt. Tổ làm ở các khe đá, góc khe núi. Chỉ đẻ 2 quả trứng, màu trắng và hầu như hình oval. Chim làm tổ không phụ thuộc vào mùa ghép đôi mà có thể làm tổ kéo dài trong năm. Trong một số tài liệu của Indonesia đây chính là loài để dụ chim yến hàng (nhưng theo phân tích ở trang 2 loài dùng để dụ chim yến hàng là loài C. linchi Tim Penulis PS).

Loài này phân bò nhiều ở Châu Á, Himalaya, Trung Quốc, Papua New Guinea, Đông Nam Á, Australia, Jawa, Rali

Đời sống tự nhiên của chim yến hàng

Loài chim này hay sống quần đàn, thích làm tổ từng cặp riêng rẽ, thích sống ở chỗ gần nước (sông, hồ, biển), có đồng ruộng, rừng cây thấp, và ít đến các khu rừng rậm. Chim yến là loài chim bay lượn cao, nhưng ít khi chúng bay xa đến độ cao 1500m để kiếm mồi (Indo.).

Theo những điều tra của Khánh Hoà, chim yến hàng có thể lên đến Lâm Đồng, Phan Rang để kiếm ăn.

Chim rất thích trú trong các hang động với diện tích rộng. Độ ẩm trong chỗ ở của chúng giao động từ 85 – 95% (đấy cũng là lý do tại sao trong một số điều tra của Khánh Hòa, sản lượng tổ yến của các hang có đáy nước cao hơn hang đáy đá, và có thể gợi ý về việc thử tạo ra một độ ẩm nhất định cho các hang không có đáy nước). Nhiệt độ thích hợp nhất cho yến làm tổ là 25 – 29 o C. Yến thích sống ở chỗ tối, nơi yên tĩnh, cảm giác an toàn, không bẩn thỉu và chứa bầu không khí trong sạch (Indo.).

Chim yến hàng làm tổ trong thời gian lúc trở về nhà đến nửa đêm. Nó không làm một mình mà cả con đực và con cái cùng làm. Công việc xây dựng tổ tiến hành mỗi ngày, kéo dài trong khoảng 40-80 ngày. Nếu thức ăn (côn trùng) nhiều hoặc vào mùa đẻ trứng thì thời gian này chỉ 40 ngày, còn nếu chưa vào mùa đẻ trứng và bị ảnh hưởng của nhiều tác nhân thì thời gian làm tổ có thể kéo dài gấp đôi.

Hình bên cho thấy chu kỳ sống của chim yến: Từ khi mới nở đến khi tập bay và rời tổ khoảng 45 ngày; từ khi bay được đến khi ghép đôi khoảng 30 ngày. Chim bắt đầu làm tổ cho đến khi làm tổ xong là khoảng 40 ngày nếu vào mùa mưa, còn nếu vào mùa khô ráo thì thời gian này mất 80 ngày. Thời gian từ khi làm tổ xong đến khi đẻ trứng là 8 ngày. Bắt cặp giao phối khoảng 5 – 8 ngày. Trứng bắt đầu vào ấp khoảng 7 ngày. Trứng được ấp và nở ra thành chim con trong khoảng 20 – 21 ngày, rồi lại bắt đầu 1 chu kỳ mới.

Chú thích : 1- Chim con mới nở

II – Chim non tập bay rời tổ

III – Chim ở thời kỳ chuẩn bị ghép đôi

IV – Chim bước vào làm tổ

Va – Tổ đã làm xong (vào mùa mưa)

Vb – Tổ đã làm xong (vào mùa khô ráo)

VI- Đẻ trứng

VII- Trứng bắt đầu ấp

Ia – Trứng ấp đã nở ra con

(IIa – Chim con bắt đầu bay rời tổ cho tới khi tổ trống)

Thành phần hoá học cơ bản của tổ yến

Theo phân tích của Departemen Perdagangan R. I, 1979 (Indo.) trong 100g tổ yến chứa

Calori : 281 Calori

Protein : 37,5 gram

Lipit: 0,3 gr

Carbonhydiat: 32,1 gr

Canxi: 485 mg

Phospho: 18 mg

Sắt: 3mg

Nước: 24,8 gr

Theo các phân tích của Nguyễn Quang Phách (1993), hàm lượng protein và lipit có khác nhau theo loại tổ và kỳ khai thác (tính theo % trọng lượng khô). Hàm lượng protein trong kỳ khai thác lần đầu là 47,16%, lần hai là 36,9%; lipit lần đầu là 0%, lần 2 – 0,56%.

Qua các số liệu trên cho thấy, hàm lượng canxi và photpho trong tổ yến rất cao, nguyên tố sắt cũng khá cao. So sánh với tài liệu đã công bố của Indonesia, thì tổ yến của Khánh Hoà có chất lượng rất tốt, hàm lượng protein cao, hàm lượng lipit rất thấp, chỉ từ 0 – 0,56%, lượng nước thấp chỉ khoảng 16 % (so với Indo. Là 24,8%).

Giới Thiệu Về Cánh Chim Việt

Lời đầu tiên xin kính chúc Quý công ty, Qúy khách hàng Sức Khoẻ -Thịnh Vượng.

Chúng tôi là Cty TNHH Du Lịch Cánh Chim Việt, ĐC: 75 Hòa Bình, P. Tân Thới Hòa, Q. Tân Phú TP, HCM. Công ty hoạt động trên các lĩnh vực: Du lịch trong nước & Quốc tế, Đại lý vé máy bay, Khách sạn, Nhà hàng, Visa – Hộ Chiếu, Vận Chuyển, Cho thuê xe ôtô…

I- CÔNG TY CỦA CHÚNG TÔI GỒM CÁC PHÒNG BAN:

5. Phòng khai thác khách trên mạng về tour, vé máy bay, khách sạn: Chuyên bán các tour và khai thác dịch vụ đặt vé máy bay, phòng khách sạn. Ngoài ra bộ phận còn tổ chức các hội nghị hội thảo hoặc dịch vụ từng phần giúp Quý khách tiết kiệm nhiều chi phí.

Tổ chức tour hàng ngày, thanh toán thuận tiện, chương trình đa dạng (tiếng Việt, tiếng Anh). Với tính chất chuyên khách du lịch lẻ chúng tôi mong muốn được là đối tác của Quý công ty trong việc nối tour hay kết hợp đồng tổ chức cho các đoàn khách lẻ, các đoàn du lịch nhóm nhỏ hoặc đối với các đoàn khách khi mà việc tổ chức riêng sẽ phát sinh thêm nhiều chi phí trong tour.

Với tinh thần hợp tác cùng phát triển, chúng tôi mong muốn được kết hợp với quý công ty trong việc gửi và nhận khách dựa trên các thế mạnh của 2 bên. Chúng tôi xin gửi tới quý công ty một số sản phẩm du lịch, dịch vụ tiêu biểu của công ty chúng tôi tổ chức tại TP, Mong nhận được thông tin về sản phẩm thế mạnh của quý công ty để chúng tôi kết hợp, để cùng phát triển.

II – CHÍNH SÁCH CỦA CÔNG TY CÁNH CHIM VIỆT:

Chúng tôi được khách hàng đánh giá cao bởi giá cả hợp lí, chất lượng tour ổn định, phương pháp bán và cung cấp dịch vụ đa dạng, linh hoạt và dịch vụ hỗ trợ khách hàng tốt nhất (Hỗ trợ khách hàng bằng ĐT, email, live chat, skype call… Các phương thức thanh toán tiện lợi

Cánh Chim Việt có một đội ngũ nhân viên, hướng dẫn viên năng động, nhiệt tình, có trình độ chuyên môn cao. Để đảm bảo phục vụ khách hàng tốt nhất, chúng tôi thực hiện giao vé tour, vé máy bay và cung cấp dịch vụ tận nơi miễn phí.

Nếu bạn đã chọn mua tour của công ty Cánh Chim Việt dù chỉ một lần, chúng tôi tin và hy vọng là các bạn sẽ hoàn toàn cảm thấy hài lòng về mọi mặt. Với mong muốn được phục vụ các khách hàng ngày càng chu đáo hơn, công ty Cánh Chim Việt luôn sẵn sàng tiếp nhận và biết ơn mọi sự góp ý của các quí khách hàng.

Vì vậy nếu quí khách có bất cứ điều gì chưa hài lòng về sản phẩm, dịch vụ hay cung cách phục vụ của Cánh Chim Việt, xin vui lòng phản ánh trực tiếp với Giám đốc Công Ty Mr. Phan Hoai Tâm ĐT: 0983 955 878 Vào bất cứ lúc nào. Chúng tôi sẽ nhanh chóng giải quyết và có thông tin phản hồi kịp thời cho mọi vướng mắc hay mọi sự chưa hài lòng nào đó của quý khách hàng.

CHI NHÁNH BÌNH TÂN

CHI NHÁNH TÒA NHÀ RICKSTAR

NHỮNG DANH HIỆU ĐẠT ĐƯỢC Top 10 thương hiệu Uy Tín, sản phẩm chất lượng

Thương hiệu Xuất Sắc thời Hội Nhập

Một Số Bệnh Ở Bồ Câu

Bệnh đậu ở bồ câu:

Biểu hiện:

Bồ câu bị nổi mụn to bằng hạt đỗ ở chân và mỏ.

Cách chữa bệnh

– Vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, tẩy uế chuồng nuôi bằng thuốc sát trùng – Đồng thời giữ chuồng nuôi sạch sẽ, ổ đẻ luôn phải khô ráo. – Dùng nước lá trầu không sắc đặc có pha muối rửa sạch các vùng da có mụn đậu. – Sau đó dùng IODINE 10% hoặc POVIDINE 10% bôi vào vùng da có mụn đậu ngày 2 lần. – Dùng GLUCO-KC + ADE-VITC + Men tiêu hóa và thuốc giải độc gan thận hòa với nước cho bồ câu uống hàng ngày – Dùng kháng sinh đề phòng vi khuẩn bội nhiễm: Amoxili hoặc Ampi-kana hoặc Doxycyclin hoặc Oxytetracyclin trộn vào khẩu phần ăn hàng ngày theo chỉ dẫn trên bao bì sản phẩm. Với phác đồ trên điều trị liên tục 5 – 7 ngày.

Bệnh Newcastle

Chim bồ câu có biểu hiện bị ho khẹc, khó thở, đi ngoài phân xanh, ăn kém.

Theo những biểu hiện trên thì chim đã bị bệnh niu cát xơn ghép viêm đường hô hấp mãn tính.

Cách chữa trị

– Cho bồ câu uống nước tỏi hàng ngày: 10 gam tỏi rã nhỏ với 1 lít nước sạch – Dùng kháng thể Gum tiêm cho bồ câu liên tục trong 3 ngày, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. – Sau đó 1 ngày tiêm Vacxin Newcastle cho bồ câu với liều lượng gấp 2 lần so với liều tiêm phòng. – Dùng thuốc diệt vi khuẩn Thiamphenicol hoặc Doxycyclin, hoặc Florphenicol hoặc Biseptol hoặc Neoteson hoặc Enroflox 20% hoặc Oxytetracyclin liều lượng và cách dùng xem trên bao bì sản phẩm. Dùng liên tục từ 5- 7 ngày. – Dùng thuốc bồi bổ cơ thể: Gluco-KC + Men tiêu hóa + ADE-Vitc + B1 + thuốc bổ gan thận hòa với nước cho bồ câu uống hàng ngày. Dùng liên tục 10 ngày.

Bệnh Newcastle ở gà

Chăn nuôi gia cầm

Tin nông nghiệp

Giới Thiệu Về Chim Chào Mào Và Tập Tính Sống Của Loài Chim Này

Giới thiệu chung về loài chim Chào mào

Chim Chào mào có tên tiếng anh là Red-whiskered Bulbul, chúng thuộc họ nhà chim sẻ biết hót. Địa điểm sinh sống rải rác khắp các vùng ở Châu Á. Với giọng hót trong trẻo thường là 3 đến 4 âm thanh, nên chúng ta có thể dễ dàng nhận biết.

Đặc điểm nhận dạng một chú chim Chào mào có hai má trắng, mào to dựng đứng lên, bên trên má trắng là má màu đỏ – Red – whiskered (râu đỏ- mào chim). Ở Việt Nam, loài chim này có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi vùng miền như: chim Chào mào, Chào mào mũ, Hoành hoạch mồng, Chào mào đá…. tuy nhiên cái tên Chào mào vẫn là cái tên thông dụng và được nhiều nghệ nhân sử dụng nhất.

Tập tính sinh sống của chim Chào mào

Chim chào mào là loài chim sống theo đàn, thường cư trú ở những nơi có nhiều cây cối cao, gần với khu dân cư. Vào mùa sinh sản, chim Chào mào thường làm tổ trên những cây có tán lá thưa thớt. Với giọng hót vô cùng đặc biệt nên chúng ta dễ dàng xác định được vị trí cũng như sự xuất hiện của loài chim này.

Tuổi đời của loài chim Chào mào trong tự nhiên khoảng 11 năm còn trong điều kiện nuôi nhốt, tuổi đời của loài chim này cao hơn nhiều.

Chim chào mào sinh sản bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau. Thời gian đàu chúng sống ở miền nam Ấn Độ nhưng đến khoảng giữa tháng ba đến tháng 10 chúng di chuyển đến miền bắc Ấn Độ. Tuy nhiên, một số cặp có thể sinh sản được 2 lần trong 1 năm.

Cúi đầu, đuôi nhâm nhấp lên, cánh rũ xuống là những hành động “ve vãn bạn tình” của chim chào mào. Chim thường làm tổ có hình dạng cốc trên các cành cây cao, thưa nhưng chắc chắn. Nguyên liệu làm tổ của chúng rất đa dạng có thể giấy, nilon, rễ cây, cỏ hay vỏ cây. Trung bình mỗi tổ sẽ có khoảng từ 2 – 3 trứng, trứng có màu cà nhạt và các đốm nâu nhạt xuất hiện.

Thường mỗi quả trứng dài khoảng 20mm, rộng khoảng 15mm. Sau 12 ngày trưng sẽ nở, cả bố mẹ chim chào mào đều thay nhau nuôi con. Mỗi ngày chim chào mào bố mẹ tìm sâu bướm, côn trùng mớm cho con đến khi chúng trưởng thành. Tuy nhiên, trứng của chim chào mào là món ngon lý tưởng của quạ và chuột lang. Những trường hợp bị tấn công chim mái thường tỏ ra bị thương hoặc giả chết giữ con để đánh lừa kẻ thù.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Một Số Loài Chim Ở Bắc Ái trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!