Xu Hướng 12/2022 # Biến Vịt Thải Thành Chim Sẻ, Cút Thối Thành Bồ Câu / 2023 # Top 12 View | Raffles.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Biến Vịt Thải Thành Chim Sẻ, Cút Thối Thành Bồ Câu / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Biến Vịt Thải Thành Chim Sẻ, Cút Thối Thành Bồ Câu / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vịt con “phù phép” thành chim sẻ

Cách đây vài năm, tình trạng vịt con thải loại “đội lốt” chim sẻ quay được bày bán công khai dọc đường đã được báo chí phản ánh nhiều. Sau một thời gian im ắng, gần đây, phương thức buôn bán gian dối này lại xuất hiện, trắng trợn lừa người tiêu dùng.

Tại nhiều con phố ở Thủ đô, những con chim sẻ rán vàng ươm, có mùi thơm phức vốn được dân nhậu gọi với cái tên “chim sẻ đi nắng” giá từ 5.000-20.000 đồng được bày bán công khai. Ít ai ngờ, chúng được chế biến từ vịt con chết. Những con vịt con chết ngạt, vịt thải loại hoặc bị bệnh sẽ được gom lại, cắt mỏ, bỏ chân rồi “hô biến” thành chim sẻ.

Vịt thải loại được tẩm gia vị nướng thơm phức đội lốt chim sẻ

Nguồn vịt con để cung cấp cho các quầy chim sẻ quay này có nguồn gốc từ hai nơi. Nguồn nội địa chủ yếu là từ các các trại ấp trứng. Khi soi quả trứng sắp nở mà phát hiện vịt đực, đợi vịt con nở ra, người ta ngay lập tức được đem làm sạch lông, cắt vát mỏ, rạch màng chân sao cho giống với chim sẻ nhất rồi nhúng vào các loại hóa chất bảo quản, đem phân phối cho các quầy chim sẻ di động.

Nếu là nguồn vịt con nhập lậu từ Trung Quốc thì bao giờ cũng bị cắt bỏ đầu và chân. Bởi vì thời gian vận chuyển và bảo quản mất quá lâu, nếu không chặt đầu thì mắt của vịt dễ bị thối, toàn bộ con vịt sẽ nhanh chóng bị phân hủy.

Vịt đực giả… cút quay thơm lừng

Những con vịt chết này được bán với giá rất rẻ, chỉ 500 đồng/con. Còn loại bị bệnh nhưng chưa chết được coi là “hàng hảo hạng”, được bán với giá 700 đồng/con.

Để vịt chết trông bắt mắt và thơm ngon, sau khi nhập về, người bán hàng thường ngâm vịt chết với bột tạo màu, ướp gia vị và chao qua với hành khô để át đi vị tanh.

Bằng thủ thuật tẩm ướp hết sức tinh vi, sau khi rán giòn, những con vịt con chết thối sẽ có mùi thơm hết sức cuốn hút. Từ các lò chế biến này, chúng khoác lên mình mác chim sẻ đánh lừa thực khách.

Nhiều gian thương còn “hô biến” vịt non thải loại thành “chim cút, chim bồ câu” rán giòn. Mỗi con “chim bồ câu” rán vàng này sẽ được bán từ 18.000 – 20.000 đồng/con.

Chim bồ câu rán vàng từ chim cút, thịt chuột

Không chỉ vịt non được biến thành “chim bồ câu” rán vàng. Những con chim cút thải loại, thậm chí cả thịt chuột cũng được hô biến thành đặc sản bồ câu quay.

Chim cút thải loại đội lốt bồ câu siêu rẻ

Trong khi giá thịt chim bồ câu non “tươi sống, chưa vặt lông” được bán với giá 50.000- 70.000 đồng/con thì tại một số chợ trên địa bàn Hà Nội chim bồ câu quay với giá chỉ 10.000-13.000 đồng/con đã tẩm ướp sẵn gia vị thu hút rất nhiều người mua. Theo lời giới thiệu thì đây là chim bồ câu “chính hiệu”, là chim non nên rất bổ.

Theo tiết lộ của một người bán hàng thịt chim làm sẵn bán ngoài chợ giá rẻ như bèo là do nguồn gốc nhập hàng không đảm bảo, một là người bán nhập hàng từ những trang trại nuôi chim cút, loại chim này là chim già, chết, chim thải loại; hai là nguồn hàng đông lạnh từ Trung Quốc nhập lậu vào, người bán sau khi mua về sẽ giã đông, dùng chất hóa học để thịt chim trở nên tươi ngon như vừa mới giết mổ, sau đó mới đem ra chợ bán. Hàng không bán hết lại được người bán cất giữ trong tủ lạnh, vì được xử lí qua chất hóa học nên chim để cả tuần, thậm chí cả tháng cũng không hỏng.

Tuy nhiên, nhiều chủ hàng không bảo quản tốt, khiến cho thịt chim bị phân hủy, bốc mùi. Mới đây, Công an TP. Hà Nội phát hiện 1 xe tải chở 11 thùng xốp có hàng nghìn con chim cút đã được giết mổ. Điều kinh khủng là những con chim cút này không được ướp lạnh đảm bảo, tất cả đều đang trong giai đoạn phân hủy bốc mùi hôi thối. Chủ hàng khai số chim cút trên được vận chuyển từ các tỉnh phía Bắc về huyện Mê Linh để đưa vào phục vụ đám cưới theo đơn đặt hàng.

Hình dáng và hương vị thịt chuột sau khi được chế biến kĩ càng y chang chim bồ câu non quay vàng

Năm 2011, dư luận rúng động trước việc một hàng ăn tại Trung Quốc đã dùng tiểu xảo phù phép, biến thịt chuột thành món chim câu quay vô cùng hấp dẫn. Những con chuột sau khi được làm sạch lông sẽ được cắt đầu, đuôi, thái thịt vừa miếng. Sau đó, chúng được chế biến rất kỳ công và được ướp cùng với các loại gia vị át mùi của chuột. Sau khi được chiên giòn trên chảo dầu, hình dáng và hương vị của những con chuột này sẽ y chang chim bồ câu non quay vàng.

Hệ Tiêu Hóa Của Chim Bồ Câu Và Chim Cút / 2023

Đăng ngày: 25/02/2014 11:58

Chim có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở chim được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá

Chim có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở chim được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ớ chim non, tốc độ này là 30 – 39 cm trong 1 giờ; ở chim lớn hơn là 32 – 40cm và ở chim trưởng thành là 40 – 42cm. Chiều dài của ống tiêu hoá chim không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 – 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác, do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất.

Chim lấy thức ăn bằng mỏ. Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia cầm rất khác nhau. Chim bồ câu, chim cút có mỏ ngắn, nhọn và cứng, hơi cong. Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ. Bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hoá sừng hướng về cổ họng, có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đấy chúng về phía thực quản. Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn. Chim thực hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu. Số lượng thức ăn mà chim ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của chim. Khi đói, nó mổ nhanh và ăn nhiều. Chim tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt. Riêng chim bồ câu uống nước bằng cách thả mỏ, hút nước vào nhờ áp lực âm trong xoang miệng.

Việc điều khiển lượng thức ăn ở chim được thực hiện bởi các trung tâm thần kinh của vùng dưới đồi thị. Các trung tâm này bị kích thích hoặc ức chế do ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh (thành phần và tính chất của thức ăn, tần số và thời gian cho ăn) và nội sinh (mức độ của các quá trình trao đổi chất).

Chim bồ câu thường ăn trực tiếp các loại hạt đỗ, ngũ cốc và rất thích ăn các loại hạt có màu. Khi trộn thức ăn hỗn hợp và các hạt có màu như ngô, đỗ thì bao giờ chim cũng chọn ăn hạt có màu trước. Trong hỗn hợp thức ăn có cám viên, ngô hạt, đỗ xanh thì chim chọn ăn hạt đỗ xanh trước tiên sau đó đến ngô và sau cùng mới đến cám viên.

Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt đẻ dễ nuốt. Các tuyến nước bọt của chim phát triển kém. Động tác nuốt ở chim được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp. Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đấy vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đấy vào diều. Ớ chim đói, thức ăn được đấy thang vào dạ dày, không qua diều. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.

Ớ chim cút và chim bồ câu, diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi. Đà điểu không có diều. Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối liền 2 xương đòn phải trái. Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào. Các lỗ dẫn vào và dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt. Giữa các cơ thắt lại có ống diều – là một phần của diều. Khi chim đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều nữa.

Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuấn nằm trong thức ăn thực vật.

Nếu làm thí nghiệm cắt diều của chim đi, thức ăn đi qua ống tiêu hoá nhanh hơn nhưng sự tiêu hoá lại giảm đi một cách đáng kể, chim đẻ sút cân. Sau một thời gian, cơ thể sẽ lại tạo ra một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ.

Dịch diều – “sữa” của bồ câu non, giai đoạn ỉ-28 ngày tuối

Một đặc điểm của bồ câu là khối lượng và tỷ lệ lòng đỏ trưng trứng thấp, khi nở ra, con non còn rất yếu nên hàng ngày, chim bố mẹ phải mớm cho chim non “sữa diều”.

Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bồ câu bố mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim con trong những ngày đầu mới nở: dịch diều hay sữa chim bồ câu. Dưới tác động của hocmon prolactin, các mạch máu chằng chịt trên thành của bao diều ngày càng dày hơn, tới mức biến thành tuyến ngoại tiết, có thể so sánh với tuyến sữa ở loài có vú. Chiều dày của thành diều có thể tới 1cm và được cấu tạo bởi những mô bào, trong khi đó, ở vào thời điểm bình thường nó chỉ là một màng gần như trong suốt. Hocmon này cũng ngăn cản sự rụng trứng. Do vậy, nếu lấy đi những trứng mới đẻ trước lúc chim bố mẹ ấp thì sau 7 ngày chim mẹ sẽ lại đẻ; còn ngược lại, nếu lấy trứng muộn hơn, khi chim bố mẹ ấp, có nghĩa là có sự xảy ra của chu trình hocmon thì 10 ngày sau khi lấy trứng đi, chim mẹ mới đẻ lại.

Từ ngày thứ 12 trở đi thì chim bố mẹ mớm mồi cho chim non hoàn toàn là hạt. Hạt cùng với nước ợ từ diều chim bố mẹ mớm vào hốc miệng cho chim non. Một ngày chim bố mẹ mớm mồi cho chim con khoảng 5- 6 lần. Lần thứ nhất với thời gian ngắn, trung bình là 4 phút. Lần thứ hai vào lúc 9 – 10 giờ sáng, lúc này chim bố mẹ vẫn chưa được ăn nên thời gian mớm mồi ngắn hơn, trung bình 2 phút. Lần thứ ba vào khoảng 11 giờ, lúc này chim bố mẹ đã được ăn nên thời gian mớm mồi cho con lâu hơn, trung bình là 6 phút. Lần thứ tư vào lúc 14 – 15 giờ và lần thứ 5 là sau khi chim bố mẹ được ăn vào buổi chiều. Lần cuối cùng lúc trời tối. Khi chim con còn nhả thì thời gian chim bố mẹ mớm mồi dài hơn so với những con chim gần đến ngày ra ràng (28 ngày). Chim bố mẹ mớm mồi cho chim non rất lâu, có lúc mớm được 2 phút, chim nghỉ rồi mớm tiếp. Trong mỗi lần mớm mồi, chim bố mẹ phải nghỉ 7 – 8 lần.

Sau khi nuôi con được 10 – 18 ngày, chim mái bắt đầu đẻ lại và tiếp tục ấp những quả trứng mới đẻ. Điều này cho thấy cường độ làm việc của chim trống, mái cũng rất cao. Chúng vừa ấp trứng vừa nuôi con đang lớn. Hàng ngày khi ăn trưa xong thì chim mái thường đổi chỗ cho chim trống vào ấp thay. Cả chim trống và chim mái rất cần mẫn, khéo léo phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng trong việc ấp trứng và nuôi con. Đây chính là một đặc điểm đáng quý của chim bồ câu.

Theo J.L.Frindel, tiến trình hình thành sữa như sau:

Sau khi đẻ xong quả trứng thứ 2 và từ ngày ấp thứ 4, một số phần của diều hình thành nên các tế bào tiết, làm cho thành diều dày hẳn lên. Từ ngày thứ 8 tới ngày 12, hình thành các “giọt nhỏ chất béo” trong một số lớp tế bào, chúng được tiết vào xoang diều, vài ngày sau đó, chim bồ câu sẵn sàng “mớm” sữa vào mỏ chim bồ câu con mới nở ra.

Có hai loại ý kiến khác nhau về “sữa chim bồ câu “: sự bài tiết sữa có thể so sánh với sự tiết sữa ở loài có vú; ý kiến khác cho rằng đây là sự tăng sinh của những tế bào chất béo ở phía bên trong niêm mạc diều; các tế bào này tách rời ra và tạo nên một chất lỏng sền sệt màu vàng nhạt tụ lại ở diều.

Sữa chim bồ câu chứa 14 – 16% protein và 8 – 10% chất béo; ngoài ra còn có chất khoáng, vitamin, nhưng không có hoặc rất ít đường. Vào ngày thứ 17 – 18, sự tiết sữa đạt mức cao nhất, kéo dài trong 7 – 8 ngày, sau đó bắt đầu giảm.

– Sự khác nhau giữa các giống chim bồ câu.

– Thời gian sau khi nở.

– Thức ăn của chim bố mẹ.

Thành phần dinh dưỡng sữa chim bồ câu

Nước 64 – 82%

Protein 11 – 18.8%

Đường, bột 0 – 6.4%

Chất béo 4.5 – 12.7%

Chất khoáng 0.8 – 1.8%

So với sữa bò (3,2 % protein; 3,5 % chất béo; 4,8 % đường) thì sữa diều của bồ câu có giá trị dinh dưỡng cao hơn.

Kết quả phân tích thành phần hoá học của dịch diều của Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương (2007) vào các ngày tuổi 1, 3, 5, 7 được thể hiện ở bảng sau.

Bảng 1.1. Thành phần hoá học của dịch diều bồ câu

Quan bảng ta thấy: hàm lượng vật chất khô thấp biến động từ 13,98% (ngày tuổi thứ nhất) đến 20,29% (ngày tuổi thứ 7) và chỉ số này tăng dần theo tuổi. Hàm lượng protein thô tăng dần theo tuổi: 6,75% (1 ngày tuổi); 6,96% (3 ngày tuổi); 8,92% (5 ngày tuổi); 9,49% (7 ngày tuổi). Hàm lượng mỡ thô tăng dần theo độ tuổi từ 2,76% ở ngày tuổi đầu tiên đến 4,59% ở ngày tuổi thứ 7. Tỷ lệ khoáng tổng số ở các ngày tuổi 1, 3, 5, 7 lần lượt tương ứng là: 1,51%; 1,69%; 2,17% và 2,17%.

Thành phần một số axit amin trong dịch diều

Kết quả phân tích hàm lượng một số axit amin có trong thành phần của dịch diều ở các ngày tuổi 1, 3, 5, 7 được trình bày ở bảng 1.9. Các axit amin trong dịch diều đều tăng dần từ ngày tuổi thứ 5, sau đó giảm dần. Như vậy, cùng với sự tăng lên của độ tuổi, sự biến động về hàm lượng của các axit amin trong dịch diều là không giống nhau.

Bảng 1.2. Kết quả phân tích axit của dịch diều bồ câu non giai đoạn 1-7 ngày tuổi (n=10)

Hàm lượng đường hoà tan

Kết quả phân tích hàm lượng đường hoà tan trong thành phần dịch diều được trình bày ở bảng 1.10.

Bảng 1.3. Hàm lượng đường hoà tan trong dịch diều bồ câu non giai đoạn 1-7 ngày tuổi (n=10)

Hàm lượng đường sacharose cao nhất ở ngày tuổi đầu tiên (0,88 mg/ml), sau đó có xu hướng giảm dần theo ngày tuổi, đến ngày tuổi thứ 7 chỉ còn 0,38mg/ml. Trong khi đó hàm lượng đường glucose cao hơn và biến động như sau: cao nhất ở ngày tuổi đầu tiên (1,82mg/ml), sau đó giảm mạnh ở ngày tuổi thứ 3, thứ 5 (chỉ còn tương ứng là 1,26mg/ml và 1,23mg/ml). Nhưng đến ngày tuổi thứ 7 lại có xu hướng tăng lên đạt 1,76mg/ml – tuy nhiên chưa đạt bằng giá trị ngày tuổi thứ nhất.

Hoạt động của 3 loại enzyme tiêu hoá chính: a – amylase, lipaza

Trước khi xác định hoạt tính của các enzyme, ta phải xác định hàm lượng protein hoà tan có trong mẫu do các enzyme có bản chất là protein. Kết quả thu được trình bày ở bảng 1.11.

Bảng 1.4. Hàm lượng protein hoà tan trong dịch diều bồ câu giai đoạn 1-28 ngày tuổi (n=10)

Qua bảng 1.11, hàm lượng protein-enzyme hào tan Ẽng từ 1 đến 3 ngày tuổi và đạt mức cao nhất (4,57mg/ml), sau đó giảm dần từ ngày tuổi thứ 5 (3,82mg/ml) cho đến ngày tuổi thứ 28 (2,19mg/ml).

Bảng 1.5. Hoat độ của ba loai enzym tiêu hóa chính trong dich diều bô câu non

(1-28 ngày tuổi, n=10)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong dịch diều chim non, hoạt độ của ba loại enzyme tiêu hoá chính: amylaza, proteaza, lipaza đều tăng dần theo ngày tuổi. Do đó, sự phụ thuộc của con non vào dịch dinh dưỡng của chim bồ cầu bố mẹ giảm dần để chuấn bị cho một giai đoạn tự lập hoàn toàn khi con non được 28 ngày tuổi.

Thành phần của sữa diều bị ảnh hưởng bởi khấu phần ăn của chim bố mẹ. Nếu khấu phần của chim bố mẹ thiếu chất dinh dưỡng thì chúng phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa cho chim con.

Trong những ngày đầu mới nở, “sữa” là thức ăn duy nhất của chim con. Từ ngày thứ 4, 5 chim bố mẹ chuyển thêm vào sữa cả thức ăn, chúng đưa thức ăn vào trước, đó là những hạt bé li ti, để đến ngày thứ 12 – 15 thì chim non hoàn toàn ăn và tiêu hoá được thức ăn bình thường. Ớ 12 ngày tuổi là thời điểm quyết định đối với chim câu con. Nó tương ứng với thời điểm cai sữa của chim bố mẹ. Tuy vậy, cũng có khi sự tiết sữa kéo dài tới tận ngày thứ 20 – 25, nhưng với một lượng sữa rất ít.

Có trường hợp chim bồ câu bố mẹ vừa nuôi lứa chim bồ câu con một tháng vừa nuôi mớm lứa chim bồ câu mới nở. Chim bố mẹ hoàn toàn có khả năng phân phối thức ăn hạt cho chim con lớn và “sữa” cho lứa mới nở chỉ với một khoảng cách vài phút mà không có sự lầm lẫn nào hết.

c.Tiêu hoá ở dạ dày

Dạ dày chim gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ. Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhày, cơ và mô liên kết. Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm và liên tục.

Ớ đáy màng nhầy có những tuyến hình túi phức tạp. Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohidric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động – pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohidric. Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở chim là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên.

Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục, có pH axit. Độ pH của dịch dạ dày ở chim trung bình là 3,0; thường là 2,6. Độ pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột xương.

Ớ chim, số lượng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi. Ớ chim con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính axit (pH = 4,2 – 4,4). Axit clohidric ự do không thường xuyên được tìm thấy trong khối chứa trong dạ dày của chim con có độ tuổi từ 1 – 5 ngày.

Kiểu cho ăn ảnh hưởng đến lượng chế tiết và hoạt tính proteolytic của dịch dạ dày. Hoạt tính phân giải protein (proteolytic) của dịch dạ dày ở chim con 10 – 20 ngày tuổi đạt tới mức độ cao (1,36 – 2,00mm) và sau đó bị thay đổi rất ít đến 60 ngày tuổi.

Niêm mạc của mề rất dày và được cấu tạo từ hai lớp: biểu bì cùng với lớp màng bằng sừng và một lớp nhầy đặc chắc từ mô liên kết.

Trong việc tạo thành màng sừng có các tuyến của màng nhầy, biểu bì của những chỗ trũng ở dạ dày tham gia.

Màng sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự dày lên ở đáy nên chiều dày của nó được ổn định. Ngoài ý nghĩa cơ học, màng sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi. Màng sừng bền với pepsin, không bị hoà tan trong các axit loãng, kiềm và các dung môi hữu cơ (Ju, T. Techver, 1984).

Các sản phấm tiêu hoá, thức ăn, vi khuấn không được hấp thu qua màng sừng, vách dạ dày.

Lớp cơ của mề cấu tạo từ mô cơ phẳng, một đôi cơ lớn chính có dạng hình tam giác hướng các đáy lại với nhau đã tạo nên khối cơ của vách mề.

Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: trong pha đầu, 2 cơ chính co bóp; và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2). Thời gian của mỗi nhịp co của 2 đôi cơ trong khoảng 2 – 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây. Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn. Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần co bóp, còn thức ăn cứng – 3 lần trong 1 phút.

Sỏi và các dị vật chứa trong dạ dày có một ý nghĩa nhất định trong việc nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày. Chúng làm tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày.

Đối với chim, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với axit clohidric của dịch dạ dày. Để hệ tiêu hoá hoạt động bình thường thì kích thước của các viên sỏi với chim con mới nở nên nhỏ (đường kính 2,5 – 3mm) và tăng lên theo tuổi. Chim đã trưởng thành có thể nuốt được loại sỏi có đường kính đến 4-6 mm. Không nên thay sỏi bằng cát, đá vôi, thạch cao, vỏ sò, vỏ ốc hến, phấn. Cát sẽ đi rất nhanh từ dạ dày vào ruột và gây kích thích. Những chất khác đã kể trên sẽ bị axit clohidric hoà tan và gây rối loạn tiêu hoá ở dạ dày, sau đó là ở ruột.

Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dưỡng và hệ số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống. Ớ chim non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 – 35%. Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy.

Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học, còn sảy ra quá trình hoạt động của các men. Dưới tác động của axit clohidric, các phân lử protein trở nên căng phồng và dễ bị phân giải.

d. Tiêu hoá ở ruột

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non của chim. Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn.

Dịch ruột chim là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH – 7,42) với tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và ảc men enterokinaza.

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 – 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCOs …).

Dịch tuỵ của chim trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza.

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin. Men proteolytic khác là các cacbosipeptidazađược tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này.

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza. Lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo.

Cơ chế việc chế tiết tuyến tuỵ ở chim giống với động vật có vú. Ớ chim trưởng thành, trước khi cho ăn, tuyến tiết ra một lượng dịch nhỏ (sự chế tiết bình thường). Từ 5 – 10 phút sau khi cho ăn, mức độ chế tiết tăng 3 – 4 lần và giữ đến giờ thứ ba, sau đó việc tiết dịch dần dần giảm xuống, đến giờ thứ 9 – 10 sau khi cho ăn thì bằng mức độ ban đầu.

Số lượng dịch và hoạt tính men thay đổi phụ thuộc vào thể tích và thành phần thức ăn. Thức ăn giàu protein sẽ nâng hoạt tính proteolytic của dịch lên đến 60%; thức ăn giàu lipit sẽ làm tăng cường hoạt tính lypolytic, hoạt tính này được giữ ở mức độ cao đến 10 giờ. Bột đậu tương có chứa nhiều protein và dầu sẽ nâng mức độ chế tiết của tuyến lên 85% và đồng thời cũng nâng cả hoạt tính proteolytic và hoạt tính lypolytic của dịch lên tương ứng đến 20% và 16%.

Mật được gan tiết ra không ngừng, một phần đi vào túi mật (gà, vịt, ngỗng), phần còn lại thì đổ trực tiếp và tá tràng. Ớ chim bồ câu, gà phi và đà điểu không có túi mật, tất cả mật tiết ra đều đổ thẳng vào tá tràng.

Mật chim là một chất lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, kiềm tính (pH 7,3 – 8,5). Dịch trong túi mật đậm đặc hơn và có màu đậm hơn. Về thành phần mật, ở các loài chim khác nhau không giống nhau. Các thành phần điển hình của mật là các axit mật, sắc tố, và cholesterin, ngoài ra còn có gluxit, các axit béo và các lipit trung tính, musin, các clất khoáng và các sản phấm trao đổi chất có chứa nitơ. Ngoài sự tham gia vào quá trình tiêu hoá ở ruột, gan còn đóng vai trò quan trọng trong trao đổi protein, gluxit, lipit và khoáng. Trong gan, các axit uric, các chất cặn bã khác, hồng cầu chết bị phân huỷ, chất độc hại… được trung hoà và thải vào nước tiểu. Trong các tế bào của gan có chứa glycogen, là nguyên liệu để tạo nên các vitamin quan trọng (A, D, và các vitamin khác).

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột.

Trong tá tràng, dưới tác động của axit clohidric và các men của dịch dạ dày (pepsin và chimosin), protein bị phân giải đến pepton và polypetit. Các men proteolytic ủa dịch tuỵ tiếp tục phân giải chúng đến các axit amin trong hồi tràng; gluxit của thức ăn được phân giải đến

các monosacarit, do tác động của amilaza của dịch tuỵ và một phần do amilaza của mật và của dịch ruột; Sự phân giải lipit được bắt đầu trong tá tràng, dưới tác động của dịch mật, dịch tuỵ và tạo ra các sản phấm là monoglyserit, glyserin và axit béo.

Sự tiêu hoá trong manh tràng của chim nhờ có các men đã đi vào cùng với chymus từ phần ruột non và từ hệ vi khuấn. Các vi sinh vật bắt đầu thâm nhập vào manh tràng gia chim ngay từ lần tiếp nhận thức ăn đầu tiên. Ớ đây, các vi khuấn streptococei, trực khuấn ruột, chúng tôi sản rất nhanh. Trong manh tràng cũng sảy ra quá trình tiêu hoá protein, gluxit và lipit. Ngoài ra, các vi khuấn còn tổng hợp các vitamin nhóm B.

Khả năng tiêu hoá chất xơ của chim rất hạn chế. Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ. Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuấn tiết ra. Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng… thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn. ở các loại chim khác nhau thì chỉ có có trung bình từ 10 – 30% cất xơ được phân giải. f. Sự hấp thu

Ớ chim, các quá trình hấp thu chủ yếu xảy ra ở ruột non. ở đây các sản phấm phân giải cuối cùng protein, lipit và gluxit; nước, các chất khoáng, các vitamin được hấp thu.

Các chất chứa nitơ chủ yếu được hấp thu dưới dạng các các axit amin. Cường độ hấp thu các axit amin riêng biệt không phụ thuộc vào khối lượng phân tử của chúng.

Gluxit được hấp thu dưới dạng các đường đơn (monosacarit) và đường đôi (disacarit).

Hấp thu mỡ. Trong ruột, dưới tác động của men lipaza, mỡ được phân giải đến glyserin và axit béo. Các sản phấm của sự phân giải mỡ, về cơ bản được hấp thu trong phần mỏng của ruột. Glyserin được hoà tan rất tốt trong nước và được hấp thu rất nhanh. Các axit béo kết hợp với các axit mật, kali và natri tạo thành các hợp chất hoà tan được trong nước sau đó mới được hấp thu. Người ta cho rằng một phần nhỏ của lipit dưới dạng các nhũ tương có thể được hấp thu trực tiếp.

Trong tương bào của biểu mô ruột, các axit béo bị tách ra khỏi các axit mật và một phần được tái tổng hợp thành các phân tử của lipit. Các axit béo được giải phóng ra trong quá trình hấp thu kích thích sự hấp thu lẫn nhau, chẳng hạn, khi có các axit béo không bão hoà thì vận tốc hấp thu các axit béo bão hoà như palmitinic và stearinic được tăng lên trong ruột non chim con. Hiệu quả của việc bổ sung lipit vào khấu phần của chim con phụ thuộc vào tỷ lệ giữa các axit béo bão hoà và không bão hoà trong khấu phần.

Hấp thu nước ở chim được thực hiện trong tất cả các phần ruột non và ruột già. Có từ 30

– 50% nước nước uống được hấp thu, quá trình này phụ thuộc áp suất thấm thấu trong ruột, trong máu và các mô. Người ta đã xác định được rằng trong một số trường hợp, ở chim có sự tuần hoàn nước, một phần nước đã được hấp thu từ ruột vào máu rồi lại bị bài tiết trở lại vào diều, làm nó căng phồng lên.

Các chất khoáng được hấp thu trên toàn bộ chiều dài ruột non. Diều, dạ dày và ruột già hấp thu các chất khoáng không đáng kể. Các muối natri, kali clorua hoà tan được trong chymus, được hấp thu một cách chọn lọc và với tốc độ khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu về các chất đó của cơ thể. Natri clorua đặc biệt dễ được hấp thu trong ruột chim con. Khi cho ăn thừa, muối này sẽ sinh ra sự rối loạn trao đổi chất, chim sẽ bị nhiễm độc muối.

Cường độ hấp thu canxi phụ thuộc vào nồng độ canxi trong máu, tính chất của khoáng trong thức ăn cũng như hàm lượng dịch mật và vitamin D3 trong ruột. Khi chim bị bệnh còi xương thì sự hấp thụ canxi bị giảm xuống đột ngột. Canxi còn bị hấp thu ít hơn khi không có đủ vitamin D trong khấu phần. Muối canxi clorua được hấp thu tốt hơn so với các muối canxi khác. Lượng photpho quá cao trong khấu phần sẽ làm ngừng việc hấp thu canxi. Tuổi và trạng thái sinh lý của chim cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi. Sự hấp thu photpho phụ thuộc vào sự tương quan của nó với canxi và được xác định bởi nhu cầu trong cơ thể.

Vitamin A được hấp thu ở manh tràng. Chim non hấp thu vitamin A nhanh hơn nhiều so với chim trưởng thành: sau 1 – 1,5 giờ sau khi cho ăn đã tìm thấy vitamin này trong máu, còn ở chim mái đẻ chỉ thấy sau khi ăn 12 giờ. Trong ruột chim, vitamin A được tìm thấy trong biểu mô của màng nhầy, ở dạng este.

Sự hấp thu carotin xảy ra sau khi chúng vừa giải phóng khỏi các hợp chất béo và việc hoà tan chúng trong chymus. Các axit mật gây kích thích hấp thụ huyền dịch b- carotin. Việc hấp thu carotin bị giảm xuống khi cơ thể được cung cấp vitamin A.

Cường độ hấp thu vitamin B1 phụ thuộc vào nhu cầu của cơ thể và vào nồng độ của nó có trong thức ăn. Sự hấp thu xảy ra tốt hơn ở những phần bên trên của ruột non. Việc bổ sung các chất kháng sinh vào thức ăn làm tăng cường sự hấp thu tiamin ở chim con.

Vitamin E ở chim con được hấp thu với sự tham gia của dịch mật.

→ TẢI TÀI LIỆU

Bí Mật Bất Ngờ Biến Chim Ưng Thành Loài Săn Mồi ‘Đỉnh’ Nhất Thế Giới / 2023

Tự cổ chí kim, ai cũng biết chim ưng là những kẻ săn mồi thượng thừa. Chúng có khả năng lượn từ những góc cao nhất lao xuống với tốc độ cực nhanh, và chớp mắt đã thấy con chuột nằm gọn trong móng vuốt.

Bí mật cho khả năng săn mồi đỉnh cao của chim ưng là gì?

Khả năng săn mồi đỉnh cao ấy một phần là nhờ cặp mắt tinh tường, cho phép chúng quan sát mọi thứ từ khoảng cách rất xa.

Nhưng theo nghiên cứu mới đây từ ĐH Lund (Thụy Điển) thì đó không phải là tất cả. Còn một bí mật khác trong cặp mắt của chim ưng mà từ trước đến nay chúng ta không hề biết đến, đó là khả năng cảm nhận màu !

Cụ thể, các chuyên gia xác nhận rằng chim ưng – chính xác hơn là chim ưng Harris – đang sở hữu một cặp mắt với khả năng cảm nhận màu tốt nhất trong thế giới động vật. Thậm chí, còn tuyệt vời hơn cả con người. Và họ tin rằng chính cặp mắt ấy đã giúp chúng định vị, theo dõi và bắt được mồi.

“Tôi đã không nghĩ rằng khả năng cảm nhận màu lại quan trọng đến thế. Trước đó, ai cũng cho rằng chim ưng có tầm nhìn tốt hơn, nhìn được xa hơn và như vậy là đủ” – trích lời Almut Kelber, chuyên gia sinh học từ ĐH Lund.

Thông thường, kích cỡ của đôi mắt có thể quyết định tầm nhìn, độ “nét” của hình ảnh, và giúp cho con người và động vật cảm nhận hình ảnh. Mắt càng to, hình ảnh càng nét hơn. Đồng thời, kích cỡ của mắt cũng tỷ lệ thuận với độ lớn cơ thể. Cơ thể càng bự, mắt cũng càng to.

Nhưng đôi khi cũng có ngoại lệ, và loài chim ưng Harris (Parabuteo unicinctus) là một trong số đó.

Theo các chuyên gia, khi quan sát một vật có màu khác với nền xung quanh, chim ưng Harris có thể xác định rõ vật đó ở khoảng cách xa gấp 2 lần so với thị lực con người.

“Thật đáng kinh ngạc. Con chim chỉ nặng chưa đầy 1kg, lại có mắt nhỏ. Nhưng tầm nhìn và khả năng cảm nhận hình ảnh thì khủng khiếp hơn con người rất nhiều, ngay cả khi con mồi của chúng nhỏ” – Simon Potier, chuyên gia trong nhóm nghiên cứu chia sẻ.

Khả năng cảm nhận màu được đánh giá là rất quan trọng, vì môi trường săn bắt của chim ưng là những khu rừng , nơi con mồi có được nơi lẩn trốn hết sức tuyệt vời.

Bản thân phát hiện này cũng rất quan trọng trong công tác bảo tồn. Trên thực tế, một trong những lý do khiến chim ưng ngày càng sụt giảm số lượng là vì chúng va vào các công trình của con người – như turbine gió và dây điện cao thế.

“Khi xác định được cách chim ưng cảm nhận thế giới xung quanh, chúng ta có thể hạn chế được điều đó” – Potier cho biết thêm.

Các Món Ăn Chế Biến Từ Chim Bồ Câu / 2023

Chim bồ câu (Columba livia domestica Gmelin) thuộc họ Bồ câu (Columbidae), tên khác là bồ câu nhà, chim câu, là loài chim nuôi rộng rãi khắp các châu lục. Có nhiều giống rất khác nhau về kích thước và màu sắc, được phân chia thành 4 nhóm như bồ câu đưa thư, bồ câu bay lượn, bồ câu cảnh và bồ câu thịt. Trong đó, chỉ có bồ câu thịt được dùng phổ biến làm thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh.

Trong y học cổ truyền, chim bồ câu được dùng với tên thuốc là cáp điểu hay gia cáp gồm thịt chim (cáp điểu nhục), tiết chim (cáp điểu huyết) và phân chim (cáp điểu phẩn). Trong một số trường hợp, trứng chim (cáp điểu noãn) cũng được dùng. Tuệ Tĩnh còn nêu tên khác của chim bồ câu là gia cưu hay phi nô và làm thuốc dùng thứ lông trắng thì tốt.

Thịt chim: Chứa 22,14% protid, 1% lipid và các muối khoáng, có vị mặn, tính bình, hơi ấm, không độc, có tác dụng bổ ngũ tạng, tăng cường khí huyết, mạnh dương, trừ cam tích, kích thích tiêu hóa. Thịt chim rất thích hợp với thể trạng người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em dưới dạng nấu cháo rồi ăn nóng. Người uống được rượu, hằng ngày ăn thịt chim tẩm rượu, nướng vàng cũng rất tốt.

Thịt chim bồ câu trống: Trong thịt chim bồ câu trống có nhiều protein, chất béo, canxi, magiê, hoóc môn sinh dục nên là thức ăn bổ thận, tăng cường chức năng sinh dục. Lấy 1 con bồ câu trống trắng, bỏ nội tạng, cho 50 g câu kỷ tử, 50 g nhục thung dung, đun chín để ăn. Ăn nhiều lần mới có kết quả như ý.

Để chữa chứng liệt dương, thiếu máu, hoa mắt hay choáng váng, lấy chim bồ câu non 1 con và chim sẻ 5 con, làm thịt, bỏ lòng ruột, cắt nhỏ, sấy khô giòn, tán bột mịn; đỗ trọng 120g sao tồn tính, tán nhỏ cùng với muối rang 4g. Trộn đều các bột, luyện với mật ong làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống hai lần, mỗi lần 15 viên với nước ấm (thuốc bổ thận tráng dương).

Thịt chim bồ câu tần với yến sào, đỗ xanh, nếp vàng, mộc nhĩ hoặc nấm hương, gia vị lại là thức ăn ngon, vị thuốc bổ, rất tốt cho mọi lứa tuổi.

Tiết chim: Chứa nhiều chất đạm, chất sắt, huyết sắc tố, có vị ngọt, mặn, mùi tanh, tính ấm, có tác dụng giải độc, điều kinh. Để chữa kinh nguyệt không đều, kinh bế lâu ngày không thông, lấy tiết chim trộn với bột xơ mướp đốt tồn tính làm thành bánh, phơi khô; khi dùng, tán nhỏ, ngày uống hai lần, mỗi lần 8g với rượu vào lúc đói.

Theo tài liệu nước ngoài, ở Trung Quốc, người ta dùng chim bồ câu cùng với những dược liệu khác dưới dạng món ăn – vị thuốc khá phổ biến để bổ tỳ, tăng cường khí huyết, nhất là cho người mới ốm dậy. Cách làm: Chim bồ câu non 1 con, làm thịt, bỏ ruột, chặt nhỏ; hoàng kỳ 30g, câu kỷ tử 30g, phơi khô, thái nhỏ, trộn đều, thêm nước, hấp cách thủy cho chín nhừ, thêm gia vị, rồi ăn cái, uống nước. Cứ 3 ngày ăn một lần. Dùng 3-5 lần. Đễ chữa đái tháo đường, lấy thịt bồ câu 1 con nấu chín với mộc nhĩ trắng 15g hoặc hoài sơn 30g và ngọc trúc 20g. Ăn cái, uống nước làm một lần trong ngày. Trứng chim bồ câu có vị ngọt, chua, mặn, tính bình, có tac dụng ích khí, giải độc.

Một số món ăn thông dụng chế biến từ chim Bồ câu:

BỒ CÂU QUAY DA DÒN VẬT LIỆU CÁCH LÀM

Pha hỗn hợp gồm: muối, đường, mật ong, xì dầu , tiêu

Thoa đều gia vị bên ngoài và trong bụng bồ câu, để khoảng 2 giờ cho ngấm gia vị

Có hai cách thực hiện:

Cách 1:

Cho bồ câu đã ướp vào lò, quay cho đến khi da bồ câu giòn và vàng đềuCách 2:

Hấp chín bồ câu, vớt ra để nguộị. Dầu sôi, xối lên mình bồ câu cho đến khi da vàng đều (trước khi hấp quấn vào nilon (foodservice film) đến khi chiên hoặc cho vào lò quay không bị teo)

THƯỞNG THỨC:

Khi dùng, chặt bồ câu làm tư, xếp ra đĩa, trang trí rau mùi tây và vài quả cà chua nhỏ

Dùng nóng với cơm nóng hoặc bánh mì

Dọn kèm với dưa chuột, đồ chua và tương ớt.

BỒ CÂU CHIÊN GIÒN VẬT LIỆU:

5 con chim bồ câu (từ châu Á, Âu, Mỹ , Úc, Phi ) (mua loại làm lông trụi lũi rồi đó nha)

1 muỗng café bột ngũ vị hương

1 muỗng café bột ngọt (hổng thích thì miễn)

1 muỗng café đường

1 muỗng café muối

1 muỗng café tiêu xay

2 muỗng café tỏi xay hay bầm nhỏ

1 muỗng canh dầu hào (oyster sauce)

1 muỗng canh xì dầu (light soy sauce)

1 muỗng canh mật ong

2 cups bột mì trộn với tí xíu muối

1 lít dầu để chiên

CÁCH LÀM:

Chim bồ câu lật ngửa banh ra chặt dọc làm đôi, lấy sạch lòng phía trong rồi rửa nước, xong để cho ráo nước bỏ vào trong thau.

Bỏ tất cả gia vị kể trên vào thau, trộn cho thấm đều rồi bọc clingwrap để trong tủ lạnh khoảng 5-6 tiếng cho thật thấm.

Đổ dầu vào chảo, để lửa vừa đợi cho dầu nóng. Đổ bột mì vào trong hộp nhựa hay trong 1 cái dĩa cạn (chỉ để khoảng nửa hộp, khi cạn thì mới thêm bột). Cầm miếng chim bồ câu ịn vô bột, ịn cho đều cả hai bên rồi thả vào chảo chiên khoảng 2-3 phút mới trở qua mặt kia. Tiếp tục ịn bột mấy miếng chim bồ câu khác rồi thả vô từ từ. Khi thấy chim bồ câu chín vàng thì gắp ra để trên giấy thấm (kitchen paper towel) cho ráo dầu. Sắp ra dĩa có lót cải xà-lách, ăn nóng cho giòn. Có thể pha chút muối tiêu chanh để chấm.

CHÁO CHIM BỒ CÂU ĐẬU XANH

100gr gạo dẻo

50gr đậu xanh

100gr nấm rơm

2 lít nước dùng gà

Hành tây, hành ngò, muối, tiêu

THỰC HIỆN

Bằm nhuyễn bồ câu lẫn cả thịt và xương, chỉ chừa lại cánh và đầu. Ướp bồ câu với một chút muối, tiêu, hành tím bằm để cho thấm.

Cho gạo vào nước dùng gà nấu sôi lên rồi mới cho đậu xanh đã ngâm mềm và nấm vào nấu lửa vừa cho chín.

Chuẩn bị một ít rau nêm: Hành tây cắt thật mỏng, hành ngò cắt nhuyễn.

Khi cháo đã chín, cho thịt bồ câu đã ướp vào nấu sôi lại. Nêm thêm một chút muối cho vừa ăn. Khi đãi tiệc có thể dọn lên nồi lẩu, khi ăn sẽ cho bồ câu vào sau. Cuối cùng cho hành ngò và hành tây lên trên, rắc thêm 1 ít tiêu.

Bồ câu ra ràng hầm cháo đậu xanh với hạt sen đã bổ, lại thêm vị mát của đậu xanh, mùi thơm của hạt sen khiến cho món ăn rất hấp dẫn. Đến đây, thực khách có thể chọn số lượng bồ câu với 3 món chính là nấu cháo, quay và rô-ti.

Thịt bồ câu rất bổ dưỡng, nhất là chim non mới ra ràng. Theo y học Trung Hoa thì thịt bồ câu có vị mặn, tính bình, công dụng ích khí giải độc, điều kinh chỉ thống, bổ tinh rất tuyệt vời cho những cặp vợ chồng mới cưới mong con.

Muốn có nồi cháo ngon phải có can đảm đập hay bẻ cổ bồ câu non. Làm như vậy máu và dưỡng chất được giữ lại nên thịt sẽ ngon ngọt hơn nhưng màu thì hơi bầm. Sau đó làm sạch, cho thêm gạo rang, đậu xanh vào soong, đổ nước nấu cháo. Cháo gần nhừ, cho thêm hạt sen vào nấu cho chín tới. Vớt thịt ra, xé nhỏ cho lại vào cháo.

BỒ CÂU NHỒI CỐM XANH

VẬT LIỆU VÀ THỰC HÀNH

Chọn bồ câu vừa ra ràng. Tùy chim lớn nhỏ, cứ tính mỗi con chim khoảng 350 – 400gr cần ¼ lít nước dùng heo, gà.

Chim làm sạch và chỉ mổ khoét lỗ nhỏ ở bụng dưới để ráo, để nguyên con, chặt bỏ cẳng chân. Hỗn hợp gia vị cho mỗi kí lô thịt: 1,5 muỗng cà phê muối + 1 muỗng súp hành tím băm + ½ muỗng cà phê tiêu .

Chà xát gia vị trong ngoài thân chim để qua 30 phút. Gan và tim cắt nhỏ để riêng.

Không dùng tỏi và rượu trong món này vì tỏi và rượu sẽ làm át mùi thơm của cốm.

Phụ gia để nhồi tùy vào chim lớn nhỏ cho nên cứ làm dư hỗn hợp này để sử dụng. Phần phân lượng chỉ dùng làm đơn vị ban đầu bằng cỡ chén ăn cơm thông thường:

Trộn đều hỗn hợp, nhồi vào đầy bụng chim, dùng kim chỉ hoặc tăm gỗ nhọn gài kín lại, chiên với chảo nhiều dầu cho vàng đều.

Phụ gia để nấu kèm 1 con chim cần : 5 lát củ sen cắt lát mỏng, 5 trái táo tàu tàu khô loại đen đỏ gì cũng được, 10 cọng kim châm ngâm nước cho mềm, thắt gút giữa.

Sắp chim đã chiên vào nồi, châm nước dùng vào hầm nhỏ lửa, lượng nước hầm vừa sấp ngang mặt thịt, nấu khoảng 15 phút sau khi nước sôi thả củ sen, táo tàu, kim châm vào. Để sôi lại cho đến khi chim vừa mềm, nước còn khoảng 1/3 thân chim là vừa. Thời gian nấu cho chín mềm còn tùy vào chất lượng thịt bồ câu mà bạn đã mua được nhưng luôn phải canh vừa lửa kẻo nước cạn mà chim vẫn chưa mềm hoặc đừng để cho thịt mềm rục quá món ăn sẽ không ngon.

Dọn mỗi khẩu phần một con chim với lượng táo, củ sen.đã chia. Dọn kèm muối tiêu.

Món ăn đạt yêu cầu là khi xé thịt chim ra phải thơm mùi hương cốm. Nói thêm: Bạn có thể làm món ăn này một cách giản dị là sau khi uớp gia vị, nhồi vào bụng chim đầy cốm xanh, gài kín lại, châm nước dừa ngọt hoặc nước sôi cũng được, nấu cho chín chim, bạn sẽ có một món ăn thuần túy hương vị cốm xanh và thịt thim theo cách làm dân dã của nhiều người Bắc VN. Tuy nhiên cách làm này chỉ ngon khi có cốm thật tươi vừa mới làm ra khoảng trong 2 tuần lễ trở lại, vốc lên ngửi còn có mùi thơm. Cốm khô để lâu chất lượng sẽ giảm đi, chính vì vậy mà người ta hay cho thêm các thực phẩm phụ như hột sen, củ sen… để món ăn có thêm vị thơm ngọt.

Sau cùng, thị trường trong và ngoài nước đều có một số thương hiệu cốm khô ở dạng đóng gói, có tẩm ướp hương liệu cốm nhân tạo. Các bạn nên lưu ý đều này vì cốm khô mà tẩm ướp có mùi thơm rất gắt chứ không dịu, khi nấu xong, với tác dụng nhiệt, mùi thơm này sẽ bay mất hết và để lại mùi mốc ngai ngái. Còn màu xanh thật của cốm luôn có ửng sắc vàng lạt, nấu xong hột cốm vẫn vậy còn cốm khô nếu có tẩm màu xanh lá cây sậm thì nấu xong nhìn màu món ăn rất là… giả dối!

BỒ CÂU NẤU BIA

Hương bia thơm nồng, ngon mềm.

NGUYÊN LIỆU: CÁCH LÀM:

Ngâm bồ câu trong nước, rửa sạch rồi cho vào nồi, kế đó cho gừng, hành, rượu, lá thơm, cam thảo vào nồi bồ câu nấu trên lửa nhỏ 2 phút rồi vớt ra thố; cho muối, bột ngọt, bia vào thố bồ câu ướp khoảng 1 giờ rồi chặt bồ câu thành miếng xếp ra đĩa.

BỒ CÂU CUỐN MỠ CHÀI NGUYÊN LIỆU:

50gr củ hành, 1 tủ tỏi

½ muỗng ngũ vị hương

1 muỗng rượu trắng

50gr đậu phộng

150gr thịt ba rọt

Mỡ chài, muối đường, ớt.

CÁCH LÀM:

Bồ câu làm lông thui sạch cho lên thớt lóc lấy thịt ướp ngũ vị hương, tiêu, muối

Củ hành, tỏi lột vỏ bằm nhỏ với ớt

Mỡ chài lặt sạch lông rửa sạch để cho ráo nước

Thịt ba rọi bỏ da xắt miếng mỏng

Cho thịt, củ hành, tỏi vô trộn đều với thịt bồ câu và rượu trắng để khỏang mười phút cho thấm

Lấy cây lụi cứ một miếng thịt bồ câu thì một miếng ba rọi cho vào trong miếng mỡ chài với thịt đem chiên vàng

Đem ra dĩa cho đậu phộng rang giã nhỏ lên trên

Lời dặn : Dùng nóng

BỒ CÂU XỐT XÍ MUỘI NGUYÊN LIỆU:

Một con bồ câu lớn, làm sạch, để khô

Xí muội, bỏ hạt, băm nhỏ

Củ hành tây, tỏi vắt lấy nước cốt

Nhánh gừng gọt vỏ, băm nhừ

Nước mắm, hạt nêm, mật ong, đường, giấm, dầu ăn, nước tương.

CÁCH LÀM:

Ướp bồ câu với hạt nêm, nước tương, dầu ăn, mật ong, nước cốt hành tây, tỏi, khoảng 1 giờ. Sau đó chiên vàng.

Làm nước xốt: Xào thơm hành tây, tỏi, cho xí muội vào, thêm một ít nước sôi.

Nêm nước mắm, hạt nêm, đường, giấm, nếm có vị chua, ngọt, mặn là được. Tiếp tục đun sôi, nước xốt hơi sánh, cho gừng, ớt vào.

Chặt bồ câu làm tư, tưới nước xốt xí muội lên trên.

Món này dùng nóng với rau xà lách rất ngon.

BỒ CÂU NƯỚNG VÀ CƠM TRỘN NGUYÊN LIỆU:

+ 1 con bồ câu lớn

+ 2 chén cơm trắng

+ 50ml nước cốt dừa

+ 50g đậu Hà Lan hột luộc chín

+ Ngò, hành lá, tỏi, cần tây ( tất cả băm nhỏ )

+ Muối, tiêu, đường, dầu ăn

CÁCH LÀM:

+ Bồ câu làm sạch, để ráo.

+ Trộn hành, ngò, tỏi, cần tây với muối, đượng dầu ăn. Ướp hỗn hợp trên vào mình bồ câu, để khoảng 1 giờ cho thấm. Nướng vàng.

+ Cho một chút dầu ăn vào chảo, đảo cơm cho nóng, cho nước cốt dừa, nêm một chút muối; sau cùng trộn đậu Hà Lan hột và ớt cắt nhỏ vào cơm.

+ Cho cơm vào bát ấn chặt, úp ra đĩa. Xếp thịt bồ câu bên cạnh; dọn kèm xì dầu, ớt.

BỒ CÂU XÀO LĂN NGUYÊN LIỆU:

dầu ăn, đường, muối, đậu phụng, rau om, bột cà ri

bánh phồng tôm chiên hay bánh tráng nướng

CÁCH LÀM:

Bồ câu nhổ lông, moi ruột, rửa sạch xong bằm nhuyễn cả xương lẫn thịt. Bằm nhuyễn sả, hành, tỏi. Đậu phụng rang chín xong giã nhỏ nhưng đừng nát vụn.

Bắc chảo dầu lên bếp nóng. Khi dầu sôi, cho hành, tỏi, sả bằm nhuyễn ở trên vào, xào cho thơm. Xong cho thịt bồ câu bằm nhuyễn vào xào cùng bột cà ri. Nêm nước mắm, tiêu, đường cho vừa ăn. Khi thịt chín tới, cho đậu phụng rang vào rồi xúc thịt ra đĩa.

Rắc rau om đã rửa sạch thái nhỏ lên mặt. Món này ăn nóng với bánh phồng tôm chiên hay bánh tráng (đa) nướng.

BỒ CÂU QUAY SỐT GIẤM

Xếp bồ câu ra đĩa, rưới sốt giấm xung quanh. Món này dùng nóng rất ngon.

Nguyên liệu:

Bồ câu làm sẵn nguyên con: 2 con,

1 muỗng canh mật ong;

1 gói tai vị, quế hồi, thảo quả pha nước;

dầu ăn; ½ củ gừng.

Gia vị: bột nêm, muối, tiêu, chanh.

Ít rau xà lách, cà rốt, ớt trái chín đỏ.

Cách làm:

Bồ câu rửa sạch, ướp với ½ muỗng muối + tiêu khoảng 5 phút. Cho tai vị, quế hồi, thảo quả vô nồi, đun sôi, thêm gừng, nêm với chút muối, bột nêm, để nguội. Trước khi chiên, nhúng chim bồ câu vào nước hỗn hợp trên và cho vào thêm muỗng mật ong. Đổ dầu vào chảo, thả chim bồ câu (cho ngập dầu), chiên nhỏ lửa, khi thấy da căng và có màu nâu vàng là được.

Trình bày:

Với rau xà lách làm nền, đặt bồ câu lên trên, trang trí bằng cà rốt tỉa hoa, xắt vài lát ớt xếp thêm quanh đĩa cho đẹp. Bồ câu quay mật ong ăn nóng, chấm muối tiêu chanh.

BỒ CÂU SỐT ME Nguyên liệu Cách làm

– Làm sạch bồ câu, dùng nhíp nhổ sạch phần lông con. Sau đó, ướp thịt với một nửa bột nêm và tiêu khoảng 15 phút cho thấm.

– Chiên vàng bồ câu trong chảo nhiều dầu, vớt ra, để ráo. Có thể để trên giấy thấm để hút hết phần dầu thừa.

– Phi tỏi. Cho me vào, xào đều cùng bột nêm, đường, nước mắm. Xào đến khi nước me có độ sánh vừa là được

Lê Hồng Phúc @ 09:06 17/07/2012 Số lượt xem: 5137

Cập nhật thông tin chi tiết về Biến Vịt Thải Thành Chim Sẻ, Cút Thối Thành Bồ Câu / 2023 trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!