Xu Hướng 3/2024 # Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Chim Bồ Câu # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Chim Bồ Câu được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trả lời:

 Khi thời tiết thay đổi, ngày nắng đêm lạnh là điều kiện phát bệnh trên chim bồ câu. Vì vậy người nuôi cần phải chú ý những biện pháp sau: Nên xây dựng trại ở nơi xa khu dân cư, đảm bảo thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, xung quanh phải có hàng rào để tránh lây bệnh. Nhập giống gia cầm từ các cơ sở giống an toàn về bệnh cúm và các bệnh truyền nhiễm… Người nuôi nên nuôi cách ly gia cầm mới nhập trại ít nhất trong 2 tuần đầu, nếu thấy đàn chim vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện dịch bệnh mới nhập vào khu vực chăn nuôi. Tiêm vaccine phòng bệnh. Vệ sinh, quét dọn hàng ngày đối với các dãy chuồng, khu vực xung quanh chuồng và các lối đi. Định kỳ phun thuốc sát trùng (Chlorine 3%, Formol 2%) 2 tuần 1 lần đối với toàn bộ khu trại, chuồng nuôi kể cả khu vực đệm.

Cho đàn chim ăn thức ăn đảm bảo chất lượng, nước uống sạch sẽ. Nếu đàn bồ câu có nguy cơ bị bệnh về đường tiêu hóa, người nuôi có thể dùng tỏi với liều 5 g tỏi/kg vật nuôi để phòng bệnh và nâng sức đề kháng. Bổ sung men tiêu hóa, vitamin, chế phẩm vi sinh hữu ích vào thức ăn, nước uống cho đàn chim. Bổ sung muối khoáng cho chim thường xuyên để chim hấp thụ vào cơ thể những chất không thể tự kiếm giúp chim có đủ sức khỏe để kháng chịu với thời tiết và môi trường nuôi nhốt.

Các Bệnh Thường Gặp Ở Chim Bồ Câu Và Biện Pháp Phòng & Điều Trị Thảo Dược

Ngày: 30/07/2024 lúc 11:12AM

I.CÁC LOẠI BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CHIM BỒ CÂU

1. Bệnh thương hàn ( Salmonellosis)

– Bệnh do vi khuẩn Salmonella gallinacerum và S. enteritidis thuộc họ Enterbacteriacae gây ra. Bồ câu bị nhiễm bệnh thông qua đường tiêu hóa khi ăn hay uống phải thức ăn, nước uống có chứa vi khuẩn.

– Sau khi bị nhiễm vi khuẩn từ thức ăn, nước uống thì thời gian ủ bệnh khoảng từ 1-2 ngày.

– Triệu chứng: Bồ câu ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều, thân nhiệt tăng. Chim ủ rũ, đặc biệt tiêu chảy phân xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối phân lẫn máu. Chim thường chết sau 3-5 ngày. Đặc biệt chim bị thương hàn thì ảnh hưởng đến trứng. Trứng được đẻ bởi cá thể chim mẹ bị thương hàn thì vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, con nở ra thì yếu dễ chết.

Phân chim bị thương hàn

2. Bệnh cầu trùng ( Pigeoncocidiosis)

– Bệnh gây ra do một số loài cầu trùng thuộc giống Eimeria: Eimeria acervulina, Eimeria tenella, Eimeria praecox, Eimeria mivatis…

– Bệnh thường thấy ở bồ câu non từ 1-4 tháng tuổi. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao giữa xuân – hè và thu – đông. Chim khi bị bệnh thì có triệu chứng tiêu chảy phân có dịch nhầy, đôi khi lẫn máu do thành ruột bị tổn thương, phân có màu socola.

3. Bệnh nấm diều

– Bệnh do nấm Candia albicans gây ra . Mẫn cảm nhất là bồ câu từ 1-2 tháng tuổi. Bệnh có thể lây qua dụng cụ, thức ăn, nước uống ko đảm bảo vệ sinh. Cũng có thể do dung kháng sinh phổ rộng dài ngày.

– Triệu chứng: Đầu tiên xuất hiện những lớp vảy da màu vàng nhạt trong mỏ có thể bóc tách dễ dàng, không chảy máu. Diều cứng không tiêu có hiện tượng hen khạc, nôn ộc ra thức ăn có chất nhầy hôi thối, có mùi chua. Kèm theo tiêu chảy phân sống, bồ câu non chậm lớn, mọc long chậm và tỉ lệ chết cao.

Nấm trong miệng và họng của chim bị bệnh nấm diều 4. Bệnh đậu

– Nguyên nhân gây bệnh được xác định là do virus đậu gây ra. Virus này có thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt như: khô hanh, ẩm ướt, dưới ánh sáng…Côn trùng là trung gian truyền bệnh, điển hình như: ruồi, muỗi,… Virus tồn tại trong cơ thể muỗi lên đến 56 ngày và truyền qua các vết cắn, vết thương hở ngoài da, bệnh xảy ra quanh năm nên là mối nguy hại cho việc nuôi chim bồ câu.

– Triệu chứng:

Thể ngoài da: Trên da hình thành các mụn đậu ở các vị trí như đầu, khóe mắt, khóe miệng, mặt trong cánh, quanh hậu môn và da chân. Khi mới xuất hiện chỉ là những nốt sần nhỏ có màu nâu xám hay xám đỏ, sau đó to dần như hạt đậu, da sần sùi. Các nốt đâu mọc ở mắt làm chim khó nhìn, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, nước mũi, làm khó thở.

Biểu hiện ngoài da và trong niêm mạc họng của chim bị bệnh đậu

Thể niêm mạc: Thể này thường xảy ra trên chim con, chim bệnh có biểu hiện khó thở, biếng ăn do niêm mạc hầu và họng bị đau, sốt, từ miệng chảy ra nước nhờn có lẫn mủ. Kiểm tra niêm mạc sẽ thấy niêm mạc ở khóe miệng, hầu họng và thanh quản có khối như khối u màu vàng trắng.

Thể hỗn hợp: Là trường hợp chim có triệu chứng và bệnh tích của cả 2 thể là ngoài da và yết hầu, chim khi ở thể này thường tỷ lệ chết cao.

5. Bệnh Newcastle

– Bệnh Newcastle là một bệnh phổ biến, bệnh do Paramyxo virus gây ra.

– Triệu chứng:

Thể tiêu hóa: Chim ăn ít, uống nhều nước, diều đầy hơi không tiêu, chim đi ỉa phân trắng, xanh, vàng nhợt.

Thể hô hấp: Chim khó thở, chảy nước mắt, nước mũi.

Thể thần kinh: Chim bị liệt, ngoẹo đầu, ngoẹo cổ.

Dạ dày tuyến và phân của chim bồ câu bị bệnh Để giải quyết tình trạng chim bị bệnh, tăng hiệu quả kinh tế thì Công ty Cổ phần DNA giới thiệu bộ đôi sản phẩm sử dụng để phòng và điều trị bệnh cho chim bồ câu. 1. Sản phẩm CoxxOil

Thành phần: Là hỗn hợp 10 loại tinh dầu tự nhiên phối hợp (kháng sinh thảo dược).

Công dụng:

Phá vỡ vòng đời của tất cả các loại cầu trùng từ đó kiểm soát hoàn toàn bệnh cầu trùng.

Tăng hấp thụ thức ăn, kích thích sinh trưởng vật nuôi.

Cách dùng

Gỉảm mùi phân, nước tiểu, hạn chế ruồi, muỗi trong chuồng nuôi.Liều phòng: 1ml/2lít nước uống

Liều điều trị: 1ml/1lít nước uống

Thời gian sử dụng: Uống liên tục 4-6h/ngày, trong 7-10 ngày

2. Sản phẩm Mixxoil

Thành phần: Là hỗn hợp các tinh dầu thiết yếu kết hợp với acid hữu cơ và acid béo cần thiết để tạo ra sản phẩm có khả năng kháng khuẩn rất mạnh.

Công dụng:

Bổ sung acid hữu cơ và acid béo cho vật nuôi.

Kháng viêm, kháng nấm và chống oxy hóa.

Tăng sức đề kháng cỉa thiện năng suất vật nuôi.

Cách dùng:

Liều phòng: 1ml/2lít nước uống

Liều điều trị: 1ml/1lít nước uống

Thời gian sử dụng: Uống liên tục 4-6h/ngày, trong 7-10 ngày.

Lưu ý: Khi áp lực mầm bệnh tại trại cao thì có thể tăng liều dùng để phòng và điều trị.

Không chỉ dừng lại ở những công dụng trên mà khi sử dụng sản phẩm Coxxoil và Mixoil++ còn giúp cho chim trở nên khỏe mạnh, có sức đề kháng cao từ đó hạn chế việc chim bị mắc những bệnh khác, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

Công ty Cổ phần DNA Việt Nam xin chúc tất cả các hộ chăn nuôi thành công.

Liên hệ kỹ thuật: Kỹ Sư Nguyễn Thế Mạnh – 0906.246.156

Phòng Trị Bệnh Thương Hàn Trên Chim Bồ Câu

Bệnh gây ra do vi khuẩn Salmonella gallinacerum và S. enteritidis thuộc họ Enterbacteriacae. Vi khuẩn là loại trực khuẩn nhỏ, ngắn có kích thước: 1-2×1,5 micromet, thường chụm 2 vi khuẩn với nhau, thuộc gram âm (-), không sinh nha bào và nang (Copsule). Vi khuẩn có thể nuôi cấy, phát triển tốt ở môi trường thạch nước thịt và peptone, độ pH=7,2, nhiệt độ thích hợp 370C.

Vi khuẩn sẽ bị diệt ở nhiệt độ 60°C trong 10 phút, dưới ánh sáng mặt trời trong 24 giờ. Nhưng có thể tồn tại 20 ngày khi đặt trong bóng tối. Các hoá chất thông thường diệt được vi khuẩn như: axit phenol 1/1000; chlorua mercur 1/20.000; thuốc tím 1/1000 trong 3-5 phút.

Trong tự nhiên có một số chủng Salmonella gallinacerum có độc lực mạnh, gây bệnh cho bồ câu nhà, bồ câu rừng, gà, vịt và nhiều loài chim trời khác.

Bồ câu nhiễm vi khuẩn qua đường tiêu hoá. Khi ăn uống phải thức ăn hoặc nước uống có vi khuẩn, bồ câu sẽ bị nhiễm bệnh. Vi khuẩn vào niêm mạc ruột, hạch lâm ba ruột, phát triển ở đó, tiết ra độc tố. – Độc tố vào nước, tác động đến hệ thần kinh trung ương, gây ra biến đổi bệnh lý như nhiệt độ tăng cao, run rẩy.

– Vi khuẩn phát triển trong hệ thống tiêu hoá gây ra các tổn thương niêm mạc ruột, cơ ruột, làm cho ruột bị viêm và xuất huyết.

– Trong trường hợp bệnh nặng, vi khuẩn xâm nhận vào máu gây ra hiện tượng nhiễm trùng máu.

Hầu hết các loài gia cầm như bồ câu, gà, vịt, ngan, ngỗng, chim cút… cũng như nhiều loại chim trời đều nhiễm S. gallinacerum và bị bệnh thương hàn. Các nhà khoa học đã làm các thực nghiệm tiêm truyền S. gallinacerum cho 382 loài chim thuộc 20 nhóm chim, kết quả có 367 loài bị phát bệnh, chiếm tỷ lệ 96%.

Chim ở các lứa tuổi đều có thể bị nhiễm vi khuẩn. Nhưng chim non dưới một năm tuổi thường thấy phát bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao (50-60%).

Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hoá. Nhưng cũng lây qua trứng khi bồ câu mẹ bị nhiễm bệnh. ở các khu vực nuôi gà cùng với bồ câu trong cùng chuồng trại và môi trường sinh thái, bồ câu thường bị lây nhiễm mầm bệnh từ gà bệnh.

Bệnh có thể lây nhiễm quanh năm. Nhưng thường thấy vào các tháng có thời tiết ấm áp và ẩm ướt trong mùa xuân, đầu mùa hè và cuối mùa thu.

Bồ câu có thời gian ủ bệnh từ 1-2 ngày, ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều.

Sau đó, thân nhiệt tăng, chim đứng ủ rũ một chỗ, thở gấp, đặc biệt là ỉa chảy, phân màu xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối có lẫn máu. Chim sẽ chết sau 3-5 ngày.

Các niêm mạc bị sung huyết:

– Niêm mạc diều, dạ dày tuyến và ruột tụ huyết từng đám.

– Ở ruột non và ruột già còn thấy niêm mạc bị tổn thương, tróc ra và có các điểm hoại tử ở phần ruột gà.

– Chùm hạch lâm ba ruột cũng bị tụ huyết.

– Chim ốm có tính chất lây lan với biểu hiện như ỉa lỏng phân xám vàng hoặc xám xanh, có lẫn máu.

– Khi mổ khám chim ốm thấy: tụ huyết, xuất huyết và tổn thương các niêm mạc đường tiêu hoá.

Chẩn đoán vi sinh vật: thu thập bệnh phẩm, nuôi cấy để phân lập vi khuẩn S. gallinacerum.

Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh cho chim bồ câu như:

– Ðảm bảo chuồng nuôi thoáng mát, có ánh nắng chiều vào.

– Thức ăn phải đủ chất dinh dưỡng, không ẩm mốc.

– Nước uống phải sạch và được thay thường xuyên.

– Ðịnh kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại bằng Bio Xide, Bio Dine hoặc Cloramin T 0,5 – 2%… toàn bộ nền và tường chuồng nuôi.

– Ngăn ngừa tiếp xúc với động vật gặm nhấm, gián và các loài chim hoang dã.

– Thực hiện nguyên tắc cùng ra cùng vào. Dọn vệ sinh sạch sẽ, sát trùng dụng cụ chăn nuôi sau mỗi đợt xuất chuồng, để trống chuồng trại 10 – 15 ngày mới nuôi tiếp đợt khác.

– Bổ sung BIO VITAMIN C 10% hoặc HAN – TOPHAN tăng sức đề kháng, giảm stress và tạo miễn dịch tốt cho bồ câu nuôi.

Khi có bệnh xảy ra cần cách ly chim ốm để điều trị. Đồng thời tiến hành cho uống phòng toàn đàn.

– Bước 1: Sử dụng một trong các loại thuốc sau để điều trị nguyên nhân

Một trong các loại trên pha nước cho toàn đàn uống, chim ốm bơm cho uống trực tiếp, liên tục 3-5 ngày.

– Bước 2: Bổ sung PERMASOL (2 gr/ 1 lít nước) và BIO ANAGIN C (100gr / 20 lít nước) nhằm hạ sốt và tăng sức đề kháng cho chim.

– Bước 3: Để tránh tổn thương niêm mạc tiêu hoá, cần cho chim ăn thức ăn mềm dễ tiêu như thức hỗn hợp dạng bột trong thời gian điều trị. Bổ sung men tiêu hóa HAN – LACVET tăng cường lợi khuẩn và ổn định đường tiêu hóa sau khi chim khỏi bệnh

Kỹ Thuật Nuôi Và Phòng Bệnh Chim Bồ Câu

Chim bồ câu là vật nuôi có giá trị dinh dưỡng khá cao, rất bổ dưỡng cho người già, người mới ốm đậy, trẻ em suy dinh dưỡng.

Phân chim bồ câu ủ để bón hoa, kiểng, cây ăn trái.

Chim bồ câu còn là loại chim cảnh đẹp.

Con giống

Giống của Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật.

Chim bồ câu được chọn làm giống phải đảm bảo các yêu cầu: khỏe mạnh, lông mượt, không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi.

Dòng chim bồ câu Pháp : Titan & Mimas:

* Dòng “siêu lợi” Mimas có bộ lông đồng nhất màu trắng, khả năng sản xuất: 16-17 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 590g.

*Dòng “siêu nặng” Titan có bộ lông phong phú đa dạng hơn: trắng, đốm, xám, nâu, khả năng sản xuất: 12-13 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 700 g.

Phân biệt trống mái: Con trống to hơn, đầu thô, có phản xạ gù mái (lúc thành thục), khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp; con mái thường có khối lượng nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng. Tuy nhiên, lúc bé rất khó phân biệt. Nên mua loại chim từ 4-5 tháng tuổi.

Một cặp bồ câu có thể sinh sản trong 5 năm, nhưng sau 3 năm đẻ, khả năng sinh sản giảm, nên thay chim bố mẹ mới.

Sinh sản

Nếu nuôi tốt 1 con bồ câu mái sau 4 -5 tháng tuổi bắt đầu đẻ lứa đầu, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Sau khi ấp 16 – 18 ngày sẽ nở. Chim con sẽ được giao cho chim trống nuôi dưỡng. 24 ngày tuổi có thể xuất chuồng bán. Chim mái nghỉ dưỡng sau 7- 10 ngày thì đẻ lứa tiếp theo. Cứ như thế 1 cặp bồ câu bố mẹ sau 1 năm cho ra đời 17 cặp con cháu.

Nuôi chim trong chuồng tỷ lệ đẻ và ấp đạt được từ 90% – 100%, nhưng khâu chăm sóc nhiều bơn, tốn công hơn.

Còn khi nuôi thả thì tỉ lệ đạt khoảng 80%, nhưng có ưu điểm là chim khoẻ không bệnh dịch.

Chim bồ câu thường đẻ trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ chiều do vậy cần hạn chế vào chuồng chim và xua đuổi chuột, mèo, rắn…bởi vì chúng làm cho chim hoảng loạn, không hoặc ngưng đẻ ngay lập tức.

Kỹ thuật dồn trứng, dồn con: Kiểm tra nghiêm ngặt, tuyển lựa trứng, ghi chép số chuồng, ngày đẻ. Trứng đẻ 5 ngày phải soi, nếu trứng không có trống loại bỏ ngay, trứng còn lại chuyển qua cặp đẻ cùng ngày để ấp. Khi 3 cặp chim nở, sẽ tách một cặp con dồn cho hai cặp nuôi. Cặp còn lại 7 ngày sau đẻ tiếp.

Chuồng trại

Với chuồng trại 200m2 có thể nuôi 70 con bồ câu bố mẹ, trong có 50m2 làm ổ cho bồ câu đẻ, ấp; ngoài ra có khu vực bồ câu thịt, khu an dưỡng chờ đẻ tiếp. Cần vệ sinh chuồng trại sạch sẽ. Nên tạo cho chim có được môi trường tự nhiên, chuồng trại đẹp thoáng mát, có đủ ánh sáng mặt trời, có mái cao ráo, yên tĩnh nhẹ nhàng, tránh gió lùa, mưa, ồn ào quá mức, tránh mèo, chuột, rắn, có độ cao vừa phải… có chỗ cho chim tắm, mỗi tuần pha một lần nước muối nhạt để chống rệp cho chim.

Chuồng trại, lồng làm bằng tre, gỗ, hay lưới kẽm (dây thép) 2mm, ghép từng ô, có thể làm nhiều tầng.

Mật độ nuôi: Nếu nuôi nhốt theo kiểu ô chuồng thì mỗi ô chuồng là một đôi chim sinh sản. Nếu nuôi thả trong chuồng thì mật độ là 6-8 con/m2 chuồng. Khi được 28 ngày tuổi, chim non tách mẹ (giai đoạn về sau này được gọi là chim dò). Nuôi chim dò với mật độ gấp đôi nuôi chim sinh sản (10-14 con/m2).

chuồng nuôi chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi: Dành cho một cặp trống mái sinh sản: Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Trên đó đặt ổ đẻ, máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung.

chuồng nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2-6 tháng tuổi: dài: 6m x rộng: 3,5m x cao: 5,5m (cả mái).

chuồng nuôi dưỡng chim thịt (nuôi vỗ béo chim thương phẩm từ 21-30 ngày tuổi):Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Mật độ 45-50 con/m2, không có ổ đẻ, không có máng ăn (phải nhồi trực tiếp cho chim ăn), ánh sáng tối thiểu.

ổ đẻ: Đường kính: 20-25cm x cao: 7-8cm: Trong giai đoạn nuôi con, chim bồ câu đã đẻ lại, nên mỗi đôi chim cần hai ổ, một ổ đẻ và ấp trứng đặt ở trên, một ổ để nuôi con đặt ở dưới. ổ có thể làm bằng gỗ, nhựa, khô ráo, sạch sẽ, vệ sinh thay rửa thường xuyên.

Máng ăn cho một đôi chim bố mẹ: dài: 15cm x rộng: 5cm x sâu: 5-10cm. Nên đặt ở những vị trí tránh chim ỉa vào, tránh các nguồn gây ẩm ướt và hạn chế thức ăn rơi vãi. Có thể dùng máng bằng tre hoặc bằng tôn. Kích thước máng ăn :

Máng uống cho một đôi chim bố mẹ: Đường kính: 5-6cm x cao: 8-10cm. Máng uống phải đảm bảo tiện lợi và vệ sinh. Có thể dùng đồ hộp (lon nước giải khát, lon bia…), cốc nhựa…

Máng đựng thức ăn bổ sung: nuôi nhốt nên cần chất khoáng, sỏi, muối ăn. Kích thước của máng đựng thức ăn bổ sung như máng uống, nên dùng gỗ hoặc nhựa, không nên làm bằng kim loại.

Thức ăn:

Chế độ ăn uống của chim đều 2-3 cữ/ngày. Bình quân lượng thức ăn cho 1 con chỉ từ 0,1-0,15g.

Cần cho chim ăn đầy đủ, nhất là cám tổng hợp. Có thể cho ăn bắp, đậu xanh hột, lúa trộn với một ít thức ăn công nghiệp của gà, vịt (thịt, đẻ).

Pha chế thức ăn cho chim theo tỷ lệ: 40% đậu xanh, 30% bắp hạt sống, 20% gạo lức và 10% lúa trộn đều với nhau. Có thể trộn gạo, lúa và pha thêm cám gà để giảm lượng đậu xanh, giảm chi phí thức ăn.

Ngoài ra, nên tăng cường thêm một số chất khoáng, vôi vào khẩu phần ăn của chim để đảm bảo cho chim sinh sản và giúp chim luôn giữ được nhiệt để tiêu thụ thức ăn tốt.

Chuồng phải có máng nước đổ đầy uống cả ngày. Nước phải sạch sẽ, không màu, không mùi và phải thay hằng ngày. Có thể bổ sung vào trong nước Vitamin và kháng sinh để phòng bệnh khi cần thiết, trung bình mỗi chim bồ câu cần 50-90ml/ngày.

Một số kinh nghiệm:

1. Tập cho chim làm quen với mèo và rắn: mỗi lần cho chim ăn mang kèm theo con mèo bên cạnh, tập cho an chung, gần nhau, mèo không vồ chim, chim không sợ mèo. Với rắn: dùng con rắn nhựa cho làm quen với chim, rồi cho rắn vào chuồng chim. Chin sẽ dạn dĩ dần với động vật lạ.

2. Giữ chim ở lại chuồng tránh tình trạng chim bay bỏ chủ mà đi chủ khác: Tập cho chim quen hơi chủ bằng cách nuôi chim càng non càng tốt. Thường xuyên thăm nomcác ổ chim mới nở, làm chim trở nên “dạn” gần gũi với chủ hơn.

3. Cho ăn đúng giờ tạo thói quen, dù có đi ăn xa khi đến giờ ăn chim rủ nhau về nhà để ăn thức ăn quen thuộc của chủ.

Chế độ chiếu sáng

Chim bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng. Sự đẻ trứng chỉ phụ thuộc vào một phần ánh sáng nhưng sự ấp trứng lại phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố ánh sáng. Bản năng ấp trứng của bồ câu phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu là 13 giờ. Do đó chuồng trại thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chim. Tuy nhiên, ở miền Bắc, ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng đèn 40W chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường độ 4-5W/m2 nền chuồng với thời gian 3-4h ngày.

Quy trình Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp

1. Nhu cầu dinh dưỡng

Năng lượng (kcal/ME): 2900-3000

Protein thô (%): 13,4-14,4%

Ca (%): 2-3%

P (%): 0,6-0,8%

NaCl (%): 0,3-0,35

Methionin (%): 0,3

Lizin (%): 0,3-0,7

Chim bồ câu nuôi nhốt rất cần chất khoáng, do đó phải thường xuyên bổ sung vào các máng ăn riêng cho chim ăn tự do.

2.Các loại thức ăn thường sử dụng nuôi chim

Thông thường chim ăn trực tiếp các loại hạt thực vật: đỗ, ngô, thóc, gạo… và một lượng cần thiết thức ăn đã gia công chứa nhiều chất khoáng và vitamin.

+ Đỗ bao gồm: đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương,…Riêng đỗ tương hàm lượng chất béo nhiều nên cho ăn ít hơn và phải được rang trước khi cho chim ăn.

+ Thức ăn cơ sở: thóc, ngô, gạo, cao lương,..trong đó ngô là thành phần chính của khẩu phần. Yêu cầu của thức ăn phải đảm bảo sạch, chất lượng tốt, không mốc, mọt.

Chim bồ câu cần một lượng nhất định các hạt sỏi,? giúp cho chim trong quá trình tiêu hoá của dạ dày (mề). Kích cỡ của các hạt: dài 0,5-0,8mm, đường kính 0,3-0,4mm. Vì vậy nên đưa sỏi vào máng dành riêng đựng thức ăn bổ sung cho chim ăn (trộn cùng với muối ăn và khoáng Premix).

3. Thức ăn bổ sung (chứa vào máng ăn riêng): Khoáng Premix: 85%; NaCl: 5%; Sỏi: 10%

Bổ sung liên tục trong máng cho chim ăn tự do. Tuy nhiên hỗn hợp được trộn nên dùng với một lượng vừa phải. Không nên để thức ăn bổ sung quá nhiều trong một thời gian dài gây biến chất các thành phần có trong hỗn hợp.

Khi phối trộn thức ăn, càng nhiều thành phần càng tốt, đảm bảo đủ chất lượng và bổ sung hỗ trợ cho nhau đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên nguyên liệu khác nhau cách phối hợp cũng khác nhau, thông thường lượng hạt đậu đỗ từ 25-30%; ngô và thóc gạ 75-75%.

Khẩu phần 1: (Sử dụng nguyên liệu thông thường)

Khẩu phần 2: (Sử dụng kết hợp cám gà công nghiệp)

4. Cách cho ăn

– Thời gian:

2 lần trong ngày buổi sáng lúc 8-9h, buổi chiều lúc 14-15 h, nên cho ăn vào một thời gian cố định trong ngày.

– Định lượng:

Tuỳ theo từng loại chim mà chúng ta cho ăn với số lượng thức ăn khác nhau, thông thường lượng thức ăn= 1/10 trọng lượng cơ thể:

– Chim dò (2-5 tháng tuổi): 40-50g thức ăn/con/ngày:

– Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)

+ Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày

+ Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày

– Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg

1. Chim sinh sản (6 tháng tuổi trở đi)

Sau khi được nuôi tập trung ở giai đoạn chim dò đến 5 tháng tuổi và đã ghép đôi tự nhiên, mỗi đôi đó được chuyển sang 1 ô chuồng riêng đã được chuẩn bị sãn sàng về máng ăn, máng uống, ổ đẻ, máng đựng thức ăn bổ sung như đã hướng dẫn ở trên. Giai đoạn này có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng riêng.

a. Thời kỳ đẻ và ấp trứng

Khi ghép đôi xong, quen với chuồng và ổ, chim sẽ đẻ. Trước khi chim đẻ, chuẩn bị ổ (chỉ dùng 1 ổ). Dùng rơm khô, sạch sẽ và dài để lót ổ. ở những lứa đầu tiên chim thường có hiện tượng làm vãi rơm gây vỡ trứng, do đó nên bện 1 vòng rơm lót vừa khít đường kính của ổ.

– Nơi ấp trứng? phải yên tĩnh, đặc biệt với chim ấp lần đầu nên giảm bớt tầm nhìn, âm thanh, ánh sáng để chim chuyên tâm ấp trứng.

– Theo dõi ngày chim đẻ bằng sổ sách ghi chép cụ thể hoặc nếu máng ăn được làm bằng tôn thì dùng bút dạ ghi trực tiếp lên máng. Nhờ vậy chúng ta có thể ghép ấp những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 2-3 ngày (số lượng trứng ghép ấp tối đa: 3 quả/ổ)

– Khi chim ấp nên định kỳ kiểm tra: xem trứng có thụ tinh không (soi trứng khi ấp được 7 ngày) trứng không được thụ tinh thì loại? ngay. Có thể dựa vào kinh nghiệm để nhận biết được trứng có phôi hay không thông qua màu sắc của vỏ trứng.

Khi chim ấp được 18 -20 ngày sẽ nở, nếu quả trứng nào mổ vỏ lâu? mà chim không đạp vỏ trứng chui ra thì người nuôi cần trợ giúp bằng cách bóc vỏ trứng để chim non không chết ngạt trong trứng.

Những đôi chỉ nở 1 con thì chúng ta cũng có thể ghép nuôi con vào những ổ 1 con khác với ngày nở chênh lệch nhau 2-3 ngày (có cùng ngày nở là tốt nhất), số lượng con ghép tối đa: 3 con/ổ

b. Thời kỳ nuôi con

Trong thời kỳ nuôi con (từ khi nở đến 28 ngày tuổi), cần thay lót ổ thường xuyên (2-3 ngày/lần), để tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi khuẩn và virus.?

Khi chim non được 7-10 ngày mới tiến hành cho ổ đẻ thứ hai vào. Sau khi tách mẹ, ổ đẻ tương ứng được bỏ ra rửa sạch, phơi khô để bố trí lứa đẻ tiếp theo.

2. Chim dò (2-5 tháng tuổi) nuôi hậu bị sinh sản

Sau khi được 28-30 ngày tuổi chúng ta tiến hành tách chim non khỏi mẹ.

Chim dò được nuôi thả ở chuồng quần thể với lứa tuổi tương đương nhau. Sau khi rời ổ, chim non chuyển sang một giai đoạn mới phải tự đi lại, tự ăn. Giai đoạn này chim còn yếu, khả năng đề kháng và khả năng tiêu hoá kém dễ sinh bệnh. Do đó cần chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng. Giai đoạn này nên bổ sung Vitamin A, B, D, các chất kháng sinh…vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hoá và chống các bệnh khác. Trong giai đoạn đầu có một số con chưa quen cuộc sống tự lập không biết ăn, uống do đó người nuôi phải kiên nhẫn tập cho chim non.

3. Nuôi vỗ béo chim lấy thịt

Tiến hành tách mẹ lúc 20-21 ngày tuổi (khối lượng cơ thể đạt 350-400g/con) dùng nhồi vỗ bé

– Địa điểm: Nhà xây, lán trại, khu nuôi riêng, dùng lồng như chuồng cá thể đã trình bày ở trên cần đảm bả sạch sẽ, thoáng mát, tuyệt đối yên tĩnh, chỉ có ánh sáng khi cho chim ăn, uống.

– Mật độ: 45-50 com/m2 lồng, không để không gian cho chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn,uống thì thời gian ngủ là chính.

– Thức ăn dùng để nhồi: Ngô: 80%, đậu xanh 20%

– Cách nhồi: Thức ăn được nghiền nhỏ, viên thành viên nhỏ ngâm cho mềm rồi sấy khô đảm bảo tỷ lệ? thức ăn/nước: 1:1

+ Định lượng: 50-80 g/con

+ Thời gian: 2-3 lần/ngày

+ Phương pháp :

* Dùng máy nhồi như vịt

– Khoáng vẫn được bổ sung tự do, các loại vitamin, thuốc bổ khác? được bổ sung trong nước uống.

Thức Ăn Cho Chim Bồ Câu Pháp

Nuôi chim bồ câu pháp theo quy mô công nghiệp rất cần chú trọng đến vấn đề thức ăn và dinh dưỡng cho chim bồ câu pháp để chất lượng thịt luôn đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Nhu cầu về dinh dưỡng cho chim bồ câu nói riêng cũng như gia cầm nói chung thì đều tùy theo từng giai đoạn mà có chế độ dinh dưỡng khác nhau.

Canxi (%) : 2 – 4%

P (%) : 0.5 – 1 %

NaCl (%) : 0.2 – 0.4%

Methionin (%) : 0.4 %

Thức ăn cho chim bồ câu pháp

Thức ăn dành cho chim bồ câu cũng tương đối phức tạp, người chăn nuôi cần cung cấp đủ các thành phần cần thiết trong thức ăn để chim bồ câu phát triển toàn diện nhất. Thông thường chim ăn trực tiếp các loại hạt như đỗ, ngô, thóc, gạo… và bổ xung thêm thức ăn đã gia công chứa hàm lượng chất khoáng và vitamin vừa đủ.

– Các loại đỗ thường sử dụng: đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương…các loại hạt này cần được rang trước khi cho chim ăn.

– Thức ăn cơ bản gồm thóc, ngô, gạo, cao lương… trong đó ngô là thành phần chủ yếu của khẩu phần ăn.

Các loại hạt này thường rất dễ bị mốc, hỏng nên cần phải để thức ăn chỗ sạch sẽ, thông thoáng đảm bảo thức ăn không bị nấm mốc, sạch sẽ giúp chim bồ câu luôn khỏe mạnh, phát triển tốt.

Ngoài các thức ăn ở trên thì người chăn nuôi cũng cần phải chú ý cho thêm các thành phần phụ trong thức ăn để giúp chim dễ tiêu hóa thức ăn hơn như cần thêm sỏi nhỏ (đường kính khoảng 0.5mm) trộn vào thức ăn bổ xung.

Cách pha trộn thức ăn cho chim bồ câu

Chim bồ câu được nuôi nhốt nên rất cần cho ăn thêm thức ăn bổ xung để giúp chúng đủ chất và dễ dàng tiêu hóa hơn, như chúng ta đã thấy trong thực tế thì giống gia cầm luôn ăn thêm sỏi nhỏ để giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Vì vậy thức ăn bổ xung là luôn cần thiết, gồm sỏi nhỏ 15%, Nacl 5%, khoáng premix 80%.

Thức ăn bổ xung được trộn lẫn các chất với nhau vì vậy chỉ nên để một lượng vừa phải trong máng ăn để cho chim ăn tự do nhưng cũng không quá nhiều dẫn đến biến chất thức ăn.

Trong việc phối trộn thức ăn cần lưu ý là luôn phải đảm bảo đủ chất lượng và bổ xung hỗ trợ cho nhau đạt hiệu quả cao nhất, tuy vậy khi trộn nguyên liệu khác nhau thì cách thức trộn cũng khác nhau.

Với chim sinh sản:

Ngô 55%, đỗ xanh 25%, gạo xay 20%

Với chim dò (chim non 2-6 tháng):

Ngô 50%, đỗ xanh 35%, gạo xay 15%

Cách cho chim bồ câu ăn

Cách cho chim bồ câu ăn như nào cho phù hợp cũng không phải người chăn nuôi nào cũng biết, thức ăn không nên cho nhiều (để lâu dễ hỏng) cũng không nên cho ít quá, cần cho chim ăn vào những thời điểm cố định trong ngày để tạo thói quen ăn tốt cho chim.

Nên cho chim ăn làm 2 lần trong ngày, buổi sáng lúc 8-9h, buổi chiều lúc 14-15h. Số lượng thức ăn cũng cần tùy thuộc vào độ tuổi của chim, thông thường lượng thức ăn bằng 1/10 trọng lượng cơ thể.

Nước uống cần phải cung cấp đủ hàng ngày, nước phải sạch sẽ, không màu, không mùi, thay nước hàng ngày.

Trong bài viết tiếp theo chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn về cách chăm sóc và nuôi dưỡng chim bồ câu. Để được tư vấn cụ thể hãy liên hệ với chúng tôi, xin chân thành cảm ơn.

Phòng Bệnh Và Chữa Bệnh Cho Khướu

Con Khướu tuy mạnh, nhưng cũng vướng nhiều thứ bệnh. Bệnh của Khướu gồm có bệnh nội thương và ngoại thương.

Bệnh ngoại thương thường gặp ở Khướu là bệnh ghẻ ở chân và bệnh rận mạt.

Bệnh nội thương thường gặp ở Khướu là bệnh tiêu chảy, bệnh cảm mạo, bệnh suy nhược cơ thể…

Tất cả những bệnh này có thể phòng ngừa trước được bằng cách cho chim ăn uống no đủ và chăm sóc đúng phương pháp. Tuy nhiên, nếu chim đã bệnh mà không phát giác để chữa trị kịp thời thì dù bệnh nhẹ cũng dễ thành nặng, vì loài chim chóc nói chung khi đã bệnh thì mau suy yếu lắm, và có thể chết một cách dễ dàng.

Bệnh ghẻ ở chân: Do lâu ngày chim không được tắm, cũng do lâu ngày không vệ sinh lồng nuôi, nhất là bố lồng quá bẩn, nên Khướu dễ bị bệnh ghẻ ở chân. Bệnh ghẻ này do vi khuẩn Chorioptex tấn công làm cho chim ngứa ngáy khó chịu, nó cứ cúi xuống chân mà tỉa mổ. Nếu không chữa trị kịp thời thì chân sẽ có khả năng sưng tấy lên làm chim đau đớn hơn, đứng không được ở trên cầu nữa…

Có thể ngâm chân ghẻ vào nước muối, hoặc rửa với thuốc Cresytol hai phần ngàn. Sau đó nhẹ tay gỡ gần những chỗ sần sùi trên ngón hoặc kẽ chân chim, rồi xức thuốc xanh hay xịt thuốc Frontline lên vết thương cũng tốt.

Cứ mỗi ngày rửa chân và xức thuốc cho Khướu một lần như vậy, chỗ ghẻ sẽ mau lành.

Nên vệ sinh lồng ít ra cũng phải mỗi tuần vài lần, nhất là bố lồng và cả cầu chim đậu nữa.

Bệnh rận mạt: Rận mạt là loại ký sinh trùng song trong lớp lông vũ của Khướu, để hút máu chim mà sống. Khướu mà bị rận mạt thì thường ốm yếu, nó thường ngứa ngáy khắp mình nên thỉnh thoảng cứ chúi đầu vào cánh vào lông mà rỉa. Rận mạt còn làm cho bộ lông chim bị nhấm nhá tưa ra một cách xấu xí. Phải trừ tuyệt cho hết chứng này, bằng cách cho chim tắm với nước có pha ít muối. Hoặc là dùng thuốc Frontline xịt thẳng vào cánh, vào gốc lông của Khướu. Chỉ cần xịt thuốc này sơ qua một lần là đủ sức trừ tuyệt được rận mạt sống ký sinh trên mình chim. Khi xịt thuốc nhớ che chắn để thuốc không lọt vào mắt làm ảnh hưởng xấu đến phần võng mạc của mắt chim.

Bệnh rận mạt xảy ra cũng do Khướu lâu ngày không được tắm nắng và tắm nước, cũng có thể là do treo lồng gần chỗ nuôi gà, hoặc là ổ gà hoặc là bồ câu đang ấp. Cũng có thể rận mạt từ các chim khác lây qua khi chim đi tập dượt…

Bệnh thay lông bất thường: Thay lông bất thường cũng được coi là một thứ bệnh của Khướu. Ở phần trước chúng tôi đã trình bày về chứng bệnh này và cũng nói về hướng điều trị. Khướu bệnh cần được sống ở nơi yên tình một thời gian dài khoảng vài ba tháng, và phải được ăn uống bỏ dưỡng để sức khỏe không bị giảm sút. Thức ăn bổ dưỡng dành cho Khướu khi bị bệnh này là cung cấp đầy đủ mỗi ngày cào cào non hoặc sâu tươi, trứng kiến.

Bệnh tiêu chảy: Khướu cũng thường bị bệnh tiêu chảy. Bệnh này làm cho chim mau sút sức, cho nên hót rất ít. Bệnh tiêu chảy của Khướu trị rất dễ: cho chim uống nước trà tương đối đậm thay cho nước uống hằng ngày. Uống trà cho đến khi nào bệnh liêu chảy chấm dứt mới thôi.

Bệnh suy nhược của Khướu: Có nhiều nguyên nhân khiến Khướu bị bệnh suy nhược. Chim bị bệnh này thường thụ động, cả ngày gần như lúc nào cũng muốn ngủ. Trông nó có vẻ buồn chán, ít hót, ít bay nhảy, và cũng ít ăn uống. Nên cho chim uống sữa thay nước trong suốt một thời gian dài. Nếu vì sữa mà tiêu chảy thì tạm ngưng cho uống sữa vài ngày rồi lại cho Khướu uống tiếp. Chim uống sữa thế nước là việc tốt. Nên cho Khướu bệnh sống nơi yên tĩnh, và ngày nào cũng phải bồi bổ thức ăn đạm động vật cho chim.

Muốn ngừa bệnh này thì nên cho chim ăn uống bổ dưỡng, tắm nắng với thời lượng vừa phải, tối cho ngủ sớm. Ngoài ra việc tập dượt thi hót cũng nên hạn định giờ giấc sao cho phù hợp với sức khỏe của chim mới tốt.

Bệnh cảm mạo: Thời tiết bên ngoài nóng lạnh bất thường, nắng mưa đôi khi cũng đột ngột, thường làm cho chim bị cảm. Nhất là trường hợp tắm nắng quá lâu, hay là tắm nước xong là lại vô ý treo lồng chim vào nơi có gió lùa khiến chim bị bệnh cảm.

Bệnh khan tiếng: có thể cho ăn thức ăn nhiều chất dầu hoặc do cảm gió: cho Khướu uống nước chanh pha đường trong 1 tuần sẽ hết.

Triệu chứng bệnh cảm ở Khướu là nó sổ mũi, dáng lù rù, lông đầu và lông mình xù lên… có khi rảy mỏ văng nhớt ra ngoài. Đừng để bệnh quá nặng khiến Khướu dễ chết. Nên cho Khướu ở nơi ấm áp, trùm kín áo lồng suốt ngày đêm cho đến khi lành bệnh. Nên cho chim ăn trứng kiến hay cào cào, sâu tươi, và tuyệt đối đừng dùng thuốc cảm viên, dù là mẫu nhỏ đút vào họng chim, chim sẽ dễ chết sặc. Có thể dùng thuốc cảm dành cho gia cầm để cho Khướu uống.

Bệnh của Khướu không nhiều, và nhiều bệnh lại dễ trị. Nên biết cách ngừa bệnh để khỏi khổ sở và lo lắng khi chim bị bệnh.

Điều lo lắng lớn nhất đối với người nuôi chim hiện nay là chưa có một loại thuốc đặc trị nào đế trị một số bệnh quan trọng cho chim. Vì vậy hễ trong nhà có con chim bị bệnh là ta phải… phó thác cho trời. Nếu không thì cũng cố chạy đôn chạy đáo dùng thuốc trị bệnh cho gia cầm để áp đặt vào bệnh của chim, để rồi may nhờ rủi chịu!

Do biết vậy, nên ai cũng lo ngừa bệnh cho chim, và lúc nào cũng cho chim ăn uống thật no đủ và bổ dưỡng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Chim Bồ Câu trên website Raffles.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!